Bài viết

CỤ ĐÕ VĂN ĐA - NGƯỜI PHÁO THỦ CUỐI CÙNG TRONG KHẨU ĐỘI PHÁO PHÁO ĐÀI LÁNG

NGƯỜI PHÁO THỦ CUỐI CÙNG TRONG KHẨU ĐỘI PHÁO PHÁO ĐÀI LÁNG

Hà Nội17/08/2026Lê Thị Trâm Anh (Bắc Ruộng)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Cụ Đỗ Văn Đa, người làng thường gọi thân mật bằng cái tên cụ Đơ, sinh năm 1925 tại Hà Nội. Mùa thu năm 1946, khi vừa tròn 21 tuổi, giữa lúc vận mệnh dân tộc đứng trước bước ngoặt sinh tử, người thanh niên ấy đã hăng hái gia nhập lực lượng bảo vệ Pháo đài Láng. Thời điểm đó, lực lượng pháo thủ chính quy của ta còn rất mỏng, trang thiết bị vừa thiếu thốn vừa phức tạp. Những thanh niên địa phương giàu lòng yêu nước như cụ Đỗ Văn Đa được tuyển chọn và đưa vào huấn luyện cấp tốc. Họ phải học từng thao tác nạp đạn, ngắm bắn, chỉnh hướng trên những khẩu pháo cao xạ 75mm do Pháp sản xuất mà quân ta tiếp quản được sau Cách mạng Tháng Tám.

Pháo đài Láng thời bấy giờ là một vị trí quân sự có ý nghĩa chiến lược đặc biệt quan trọng nằm ở phía Tây Hà Nội. Để chuẩn bị cho cuộc chiến không thể tránh khỏi, suốt những ngày đêm cuối năm 1946, các chiến sĩ trẻ cùng nhân dân địa phương đã dốc sức đào hào, đắp công sự, củng cố hệ thống trận địa và khẩn trương làm quen với vũ khí. Từ những người nông dân, thanh niên Hà Thành chưa từng cầm súng, họ nhanh chóng trưởng thành thành những người pháo thủ bản lĩnh.

Đến giữa tháng 12 năm 1946, tình hình tại Thủ đô diễn ra vô cùng ngột ngạt. Quân thực dân Pháp liên tục nổ súng gây hấn, khiêu khích và công khai tham vọng đè bẹp chính quyền cách mạng non trẻ. Trước nguy cơ chiến tranh bùng nổ toàn diện, ngày 16 tháng 12 năm 1946, Bộ trưởng Quốc phòng Võ Nguyên Giáp cùng Chỉ huy trưởng Mặt trận Hà Nội Vương Thừa Vũ đã trực tiếp tới Pháo đài Láng kiểm tra công tác chuẩn bị. Sự quan tâm và những lời động viên sát sao của các vị chỉ huy đã tiếp thêm niềm tin và tinh thần quyết chiến cho những người lính trẻ như Đỗ Văn Đa.

Đến ngày 18 tháng 12 năm 1946, Bộ Chỉ huy chính thức gửi mệnh lệnh tác chiến bí mật tới Pháo đài Láng, trong đó vạch rõ từng tọa độ mục tiêu địch trong nội thành cần phải tiêu diệt. Trưa ngày 19 tháng 12, Trung đội trưởng Nguyễn Ưng Gia tập trung các pháo thủ, dặn dò mọi người ăn cơm sớm và khẩn trương trở về đúng vị trí mâm pháo, sẵn sàng chờ hiệu lệnh. Đêm hôm ấy, Hà Nội chìm trong cái rét buốt giá của mùa đông. Những người lính đứng bên khẩu đại bác trong điều kiện vô cùng thiếu thốn — có người không có giày tất, chỉ mặc trên mình bộ quần áo mỏng — nhưng tất cả đều giữ sự im lặng tuyệt đối, dồn hết tâm trí vào mâm pháo để chờ giờ G.

Đúng 20 giờ 03 phút ngày 19 tháng 12 năm 1946, toàn bộ hệ thống điện tại Hà Nội vụt tắt — tín hiệu báo bão đã đến. Ngay lập tức, từ Pháo đài Láng, tiếng hô khẩu lệnh "Bắn!" dõng dạc của Trung đội trưởng Nguyễn Ưng Gia vang vọng không gian.

Cụ Đỗ Văn Đa cùng các đồng đội lập tức hành động. Những thao tác nạp đạn, giật cò được thực hiện chính xác đến từng mi-li-mét. Hai khẩu pháo 75mm tại Pháo đài Láng liên tiếp khai hỏa ba loạt, trút tổng cộng 6 quả đạn xé gió găm thẳng vào các căn cứ của quân Pháp trong thành Hà Nội. Tiếng pháo rền vang giữa đêm đông không chỉ là đòn trừng phạt đích đáng gieo rắc khủng hoảng cho kẻ thù, mà còn trở thành hiệu lệnh lịch sử mở đầu cuộc Toàn quốc kháng chiến. Ngay sau tiếng pháo Pháo đài Láng, các pháo đài Xuân Tảo, Xuân Canh cũng đồng loạt nhả đạn, đưa quân và dân Hà Nội bước vào cuộc chiến đấu 60 ngày đêm kiên cường chống trả quân Pháp.

Ngay sau khi những quả đạn đầu tiên rời nỏ pháo, Tổng Chỉ huy Võ Nguyên Giáp đã gọi điện hỏi thăm tình hình và biểu dương các chiến sĩ Pháo đài Láng. Theo hồi ức của cụ Đỗ Văn Đa, khi nhận tin báo đạn pháo rơi chính xác vào các mục tiêu quân sự địch trong thành mà không gây ảnh hưởng đến tính mạng người dân lành, toàn bộ khẩu đội vỡ òa trong niềm hạnh phúc. Loạt đạn mở màn ấy sau này được Đại tướng Võ Nguyên Giáp trân trọng gọi là "loạt đạn thần thánh", bởi nó đã hoàn toàn đập tan âm mưu đánh úp bất ngờ của thực dân Pháp, giành thế chủ động cho ta ngay từ những phút đầu tiên.

Không dừng lại ở chiến công mở màn, các pháo thủ Pháo đài Láng tiếp tục kiên cường bám trận địa. Ngày 21 tháng 12 năm 1946, bằng phương pháp ngắm bắn trực tiếp mưu trí trong điều kiện thiếu thốn kính ngắm chuyên dụng, khẩu đội Pháo đài Láng đã lập nên kỳ tích khi bắn rơi một máy bay trinh sát của Pháp xuống khu vực phố Hàng Bột (nay là phố Tôn Đức Thắng). Đây được ghi nhận là một trong những chiến công bắn rơi máy bay địch đầu tiên của Pháo binh Việt Nam.

Khi quân Pháp tăng cường viện binh và hỏa lực tấn công dữ dội vào khu vực Ô Chợ Dừa – Giảng Võ, để bảo toàn lực lượng phục vụ kháng chiến lâu dài, Bộ Chỉ huy lệnh cho các chiến sĩ Pháo đài Láng phá hủy pháo rồi rút khỏi Hà Nội. Sau 60 ngày đêm chiến đấu kiên cường, quân dân Thủ đô đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giam chân địch, tiêu hao sinh lực đối phương và tạo khoảng thời gian vàng để Trung ương Đảng cùng cả nước chuẩn bị cho cuộc kháng chiến trường kỳ.

Rời Pháo đài Láng, cụ Đỗ Văn Đa tiếp tục dấn thân vào những chặng đường chiến đấu gian khổ mới. Từ năm 1949 đến năm 1954, cụ đứng trong hàng ngũ Sư đoàn 308 (Đại đoàn Quân Điên) lịch sử, trực tiếp tham gia nhiều chiến dịch lớn, đỉnh cao là Chiến dịch Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu. Sau chiến thắng chống Pháp, cụ tiếp tục cống hiến trong lực lượng Quân chủng Phòng không – Không quân, tham gia chiến đấu bảo vệ bầu trời Hà Nội trong trận "Điện Biên Phủ trên không" năm 1972. Đến năm 1973, cụ ra quân nghỉ hưu với quân hàm Thượng úy.

Nhiều thập kỷ trôi qua, các đồng đội cùng sát cánh bên mâm pháo năm xưa dần lượt trở về với đất mẹ. Đến khi các nhà nghiên cứu lịch sử và Bảo tàng Lịch sử Quốc gia tìm về ghi lại những ký ức vô giá về Pháo đài Láng, cụ Đỗ Văn Đa chính là người pháo thủ cuối cùng còn sống của khẩu đội pháo lịch sử đêm 19 tháng 12 năm 1946. Ký ức chân thực, sống động của cụ đã trở thành nguồn tư liệu lịch sử vô giá, giúp thế hệ trẻ hôm nay hình dung trọn vẹn về thời khắc thiêng liêng của dân tộc.

Ngày nay, nòng pháo đại bác 75mm từng gầm lên giữa đêm đông năm ấy đang được trân trọng lưu giữ và trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia. Câu chuyện về cụ Đỗ Văn Đa không chỉ là ký ức về một người lính già cầm pháo, mà còn là biểu tượng sống động cho cả một thế hệ thanh niên Hà Nội đã dâng hiến tuổi trẻ, sẵn sàng "Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh"

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn