Tháng 4/1972, Mỹ phát động trở lại cuộc chiến tranh phá hoại miền bắc Việt Nam. Chúng tập trung vào Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên với cường độ đánh phá rất cao. B52 rải bom một dọc xuyên các vị trí trọng điểm, rất nhiều người thương vong. Phi công của ta có những cuộc không chiến liên miên để đánh trả các trận không kích đánh phá miền bắc của không quân Mỹ.
Máy bay B52 của Mỹ trong chiến dịch 12 ngày đêm đánh phá Hà Nội và các tỉnh, thành phố miền bắc. Ngày 23/12/1972, theo tin tình báo, Không quân Mỹ sẽ sử dụng 80 lần chiếc tiêm kích bom chiến thuật, tiếp tục đánh phá các mục tiêu quanh khu vực Hà Nội. Số lượng máy bay MiGCAP, đối phó với MiG chiếm tỷ lệ 60%. Trong lúc ông đang tham gia bay huấn luyện cho phi công trẻ của Trung đoàn 927 thì được Trung đoàn trưởng Nguyễn Hồng Nhị gọi lên, giao nhiệm vụ xuất kích chiến đấu. Biên đội của ông gồm 2 máy bay MiG-21, một chiếc do ông điều khiển (số 1) và một chiếc do Lê Văn Kiền điều khiển (số 2).Ông kể: “Khi đó, trình độ trên MiG-21 của tôi khá điêu luyện. Sau trận đối đầu với Không quân Mỹ ở Nghệ An và nhiều trận xuất kích ở khu 4 giúp mình có niềm tin và sự đĩnh đạc”.Kết thúc chiến dịch 12 ngày đêm, đế quốc Mỹ đã phải trả giá bằng một thất bại thảm hại, một trận thua vô điều kiện. Quân và dân thủ đô Hà Nội mà nòng cốt là Quân chủng Phòng không-Không quân, đã bắn rơi 81 máy bay các loại của Mỹ, trong đó có 34 máy bay B52; 21 chiếc F4; 5 chiếc F111; 12 chiếc A7; 4 chiếc A6A; 2 chiếc RA5C; 1 chiếc F105; 1 chiếc HH53; 1 chiếc 147SC. Trong chiến dịch này, bộ đội không quân đã bắn hạ được 8 máy bay Mỹ, trong đó có 2 chiếc B52, 5 chiếc F4 và 1 chiếc RA5C, góp phần cùng toàn quân, toàn dân lập nên kỳ tích chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” làm chấn động thế giới, buộc Mỹ phải ký Hiệp định Paris, rút quân về nước.


Lúc này, phi công trẻ nhận thấy trận chiến phức tạp vì lực lượng không quân địch làm nhiệm vụ MiGCAP khá đông, đã có ý đồ sẵn sàng tấn công MiG. Khoảng 3 giờ 30 phút sáng, biên đội của phi công Nguyễn Văn Nghĩa ra sân bay và đến 13 giờ 40 phút, biên đội được lệnh cất cánh, chặn đánh đội hình cường kích từ Sầm Tơ bay vào Suối Rút-Hòa BìnhTrong lúc giữ cự ly đội hình chiến đấu với phi công số 2 là Lê Văn Kiền, phi công Nguyễn Văn Nghĩa phát hiện 2 bên biên đội đều có tốp 4 chiếc F4 của đối phương, chúng sẵn sàng hỗ trợ nhau để khống chế MiG. Trong giây lát cân nhắc, ông quyết định chọn hướng đánh thẳng vào tốp gần nhất bên phải.Cơ thể ông bắt đầu nóng ran, mặt phù lên vì phải liên tục chịu gia trọng lớn từ các động tác kỹ thuật kịch liệt.Ông hồi tưởng: “Sau khi lệnh cho số 2 vứt thùng dầu phụ, bật tăng lực tấn công chiếc F4 số 4 bên trái, tôi giữ chế độ tăng lực toàn phần, nhanh chóng áp sát vào mục tiêu, công kích chiếc số 3 bên phải. Trong tình thế số lượng F4 quá nhiều, vòng trong, vòng ngoài quanh chúng tôi, chúng đã phát hiện máy bay MiG, nhanh chóng triển khai đội hình tấn công, phóng tên lửa tới tấp về phía MiG. Biên đội vừa tránh đạn vừa tạo thế đánh, cứ như vậy, để chớp được một tình thế có lợi quả là khó khăn”.Cơ thể ông bắt đầu nóng ran, mặt phù lên vì phải liên tục chịu gia trọng lớn từ các động tác kỹ thuật kịch liệt. “Tưởng chừng như bất lực”, ông nhớ lại. Đúng lúc này, ông chiếm lĩnh được vị trí có lợi phía sau đối phương, đưa chiếc F4 vào vòng ngắm.

“Chiếc MiG của tôi lao nhanh về phía mục tiêu, ở cự ly bắn hiệu quả, bằng đường ngắm kinh nghiệm, tôi ấn nút phóng tên lửa! Máy bay F4 "Con ma" lập tức bốc cháy, số 2 của tôi reo vang trong máy: "Cháy rồi!”, gương mặt ông rạng rỡ khi nhớ lại khoảnh khắc này.Niềm vui của người lính không quân bấy giờ là diệt được mục tiêu và thấy đồng đội cùng trở về an toàn. Nhưng tình thế khó khăn ngay lập tức đặt ra là sân bay Đa Phúc bị Mỹ phong tỏa, đường băng chính bị đánh phá. Sở chỉ huy cho phép biên đội bay ra khu vực Vĩnh Tường-Vĩnh Phúc, giữ độ cao 4.000m nhảy dù. Nhưng Nguyễn Văn Nghĩa đã không thực hiện việc này.Tôi hỏi ông vì sao không nhảy dù, bảo toàn tính mạng cho mình, ông chậm rãi kể: “Trong giây lát cân nhắc, tôi quyết định không nhảy dù, lẳng lặng bay vào sân bay để hạ cánh xuống đường lăn, sẵn sàng tính đến phương án hạ cánh xuống đường kéo dắt máy bay ra chân núi Tam Đảo. Tôi không đành lòng vứt bỏ chiếc MiG thân yêu, khi nó vẫn đang "ngoan ngoãn" nghe theo sự điều khiển của mình. Ngày chiến thắng sắp đến gần, chắc chắn Mỹ phải thua, đúng như nhận định của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu. Lực lượng phi công còn không nhiều, nếu nhảy dù, nhẹ nhất cũng phải mất một thời gian mới bay lại được. Hạ cánh cho dù máy bay có hư hỏng vẫn có thể lên máy bay khác tiếp tục chiến đấu”.Vì thế, ông quyết định hạ cánh xuống đường lăn sân bay, rất may con MiG chạy xả đà mà không bị cáng vào viên đá nào, đưa máy bay về nơi an toàn. “Đó là niềm sung sướng, hạnh phúc vô cùng mãnh liệt khi mình bắn rơi chiếc máy bay đầu tiên của Mỹ”, ông nói.Niềm vui của phi công Nguyễn Văn Nghĩa còn nhân đôi khi chính chiến thắng này đã khai thông thêm nhiều chiến thắng cho không quân ta trong những ngày xuất kích tiếp theo, liên tiếp bắn rơi thêm 7 máy bay nữa của giặc Mỹ, trong đó có 2 pháo đài bay B52.“Chiếc máy bay tôi bắn rơi ngày 23/12/1972 là chiếc máy bay Mỹ đầu tiên bị Không quân nhân dân Việt Nam bắn rơi trong chiến dịch “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không”, mà tôi vinh dự lập công, cũng là chiếc máy bay Mỹ thứ 6 mà tôi bắn hạ. Đó là một kỷ niệm khó quên trong cuộc đời phi công của tôi”, ông Nghĩa tự hào nói.Đại tá, Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Văn Nghĩa, nguyên Phó sư đoàn trưởng về chính trị Sư đoàn 370, Quân chủng Phòng không-Không quân, là một trong những phi công đầu tiên bắn rơi máy bay Mỹ trong cuộc đọ sức 12 ngày đêm tháng 12/1972 trên bầu trời Hà Nội.
Những cảm xúc đặc biệt trên không---
Những chiến thắng có được là do mỗi phi công được tôi luyện chí khí anh hùng từ bên trong.Đại tá Nguyễn Văn Nghĩa
“Cuộc đời tôi có 3 cảm xúc đặc biệt ấn tượng khi chiến đấu trên không”, ông chậm rãi kể. Cảm xúc đặc biệt ấn tượng đầu tiên trong đời làm phi công của ông chính là cuộc đụng độ đầu tiên với phi công tiêm kích Hoa Kỳ trên bầu trời Nghệ An vào ngày 6/3/1965. Khi đó, ông đang lái MiG-21.Nghe nhiều về danh tiếng phi công Mỹ rất lành nghề, có lịch sử hàng trăm năm và thạo chiến đấu trên phương tiện tối tân, vì thế, ông muốn thử đối đầu trực diện với phi công Mỹ trên trời để đánh giá khả năng trình độ kỹ thuật phi công Mỹ và mình như thế nào. “Lúc đầu rất hồi hộp, nhưng sau chuyến đụng độ đó thì mình kết luận, Mỹ cũng không có gì đáng sợ cả. Mình phải tự tin. Với người lính phi công, khi đã bay lên trời, nếu không có niềm tin, sẽ không đánh thắng được”, ông Nghĩa nói.Cuộc “quần nhau” kéo dài chừng 10 phút, nhưng chất chứa đầy cảm xúc. Máy bay MiG-21 mà ông Nghĩa điều khiển chỉ nặng 9 tấn, trong khi máy bay F-4 và F-8 nặng hơn 20 tấn. Bán kính vòng của F-4 rất hẹp vì có cánh tà trước nên khi ông Nghĩa bám được bán cầu phía sau của F-4 thì nó lại quay ngoắt đối đầu với mình, khiến cuộc giao tranh bất phân thắng bại.
Bảy năm sau, ông lần lượt trải qua thêm 2 cảm xúc đặc biệt trong đời lính không quân của mình, đó là lập kỳ tích bắn rơi máy bay đầu tiên và chiếc máy bay cuối cùng trong cuộc chiến 12 ngày đêm oanh liệt bảo vệ bầu trời thủ đô. Ông bảo, đây là cảm xúc tột đỉnh hạnh phúc bởi ông đã góp phần chấm dứt cuộc chiến ném bom B52 tại miền bắc, chấm dứt sự tàn khốc trong cuộc chiến tranh phá hoại miền bắc của Mỹ.Nhớ lại thời điểm tàn khốc đó, ông bảo: “Cô tính xem, một máy bay B52 mang được 30 tấn bom, một đội hình 3 máy bay rải thảm gần 100 tấn bom, trên vệt rải bom đó không nơi nào còn sự sống. Sự tàn khốc đó khiến sự căm phẫn của mình dâng cao. Trong lòng ai cũng quyết chiến để Mỹ biết lễ độ. Ai cũng khát vọng đất nước, thủ đô bình yên trở lại”. Sau 12 ngày đêm, chúng ta đã bắn được 34/193 chiếc B52, lập nên chiến công oanh liệt, vĩ đại và hào hùng của quân dân thủ đô Hà Nội nói chung và không quân Việt Nam nói riêng.Tự hào về những đồng đội không quân của mình kiêu hãnh, oai hùng trên bầu trời, ông bảo, những chiến thắng có được là do mỗi phi công được tôi luyện chí khí anh hùng từ bên trong. Rồi ông nói thêm: “Mình xác định hạ cánh có thể chết nhưng vẫn hạ cánh. Nếu hạ cánh sống thì lên máy bay khác đi chiến đấu, nếu hy sinh thì xanh cỏ. Chất anh hùng là ở chỗ đó”.