Bài viết

CỤ HUỲNH THÚC KHÁNG – BIỂU TƯỢNG ĐẠI ĐOÀN KẾT VÀ CHÍ KHÍ SĨ PHU TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP

Phạm Quang Huy

Đà Nẵng17/08/2026phường Tân Hưng (Phường Tân Hưng)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Nguồn gốc khoa bảng Quảng Nam, sĩ phu Duy Tân và những năm tháng tù Tôn Đảo

Cụ Huỳnh Thúc Kháng, tự là Mẫn Chế, hiệu là Thạnh Bình, sinh ra tại làng Thạnh Bình, xã Tiên Cảnh, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam – vùng đất nổi tiếng với truyền thống hiếu học và tư tưởng đổi mới. Thừa hưởng trí tuệ xuất chúng, ông thi đỗ Giải nguyên kỳ thi Hương rồi tiếp tục đỗ Hội nguyên Tiến sĩ trong kỳ thi Hội dưới thời vua Thành Thái. Tuy đỗ đạt đỉnh cao trên con đường khoa bảng phong kiến, nhưng Huỳnh Thúc Kháng không ra làm quan cho triều đình tay sai mà chọn con đường dấn thân vì dân vì nước. Đầu thế kỷ XX, ông cùng với các nhà yêu nước vĩ đại Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp khởi xướng Phong trào Duy Tân tại Trung Kỳ, vận động nhân dân mở trường học, phát triển kinh tế, bài trừ hủ tục và nâng cao dân trí để làm nền tảng đòi lại độc lập dân tộc.

Hoạt động Duy Tân phát triển mạnh mẽ khiến chính quyền thực dân Pháp vô cùng lo sợ. Năm 1908, nhân sự kiện phong trào chống thuế bùng nổ khắp Trung Kỳ, thực dân Pháp đã bắt giữ Huỳnh Thúc Kháng và kết án đày ra Côn Đảo – nơi được mệnh danh là "địa ngục trần gian". Trong suốt 13 năm bị giam cầm gian khổ (1908 – 1921), đối mặt với đòn thù tra tấn dã man và chế độ lao dịch khắc nghiệt, Cụ Huỳnh vẫn giữ vững khí tiết sĩ phu, biến nhà tù thành trường học cách mạng, nghiên cứu lịch sử, làm thơ và rèn luyện意志. Sau khi được trả tự do, ông tiếp tục đấu tranh trên mặt trận báo chí, thành lập tờ báo Tiếng Dân tại Huế năm 1927 – tờ báo tiếng Việt đầu tiên ở Trung Kỳ – để làm diễn đàn cất lên tiếng nói đòi quyền lợi cho nhân dân và vạch trần sự bất công của chính quyền thực dân.

Sứ mệnh Đại đoàn kết dân tộc và vai trò Quyền Chủ tịch nước năm 1946

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, trước yêu cầu cấp bách phải xây dựng một chính quyền cách mạng rộng rãi, quy tụ mọi tầng lớp nhân dân và sĩ phu yêu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trân trọng mời Cụ Huỳnh Thúc Kháng ra tham gia Chính phủ. Mặc dù đã ở tuổi thất thập và không thuộc đảng phái cách mạng nào, nhưng nhận thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh là một vị lãnh tụ kiệt xuất vì dân vì nước, Cụ Huỳnh đã nhận lời giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ trong Chính phủ Liên hiệp Lâm thời. Sự xuất hiện của một vị Nhân sĩ Tiến sĩ uy tín bậc nhất Trung Kỳ trong bộ máy nhà nước cách mạng đã trở thành biểu tượng rực rỡ cho chính sách Đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh, giúp củng cố niềm tin tuyệt đối của các tầng lớp nhân sĩ, trí thức và nhân dân đối với chính quyền non trẻ.

Năm 1946, khi tình hình đất nước rơi vào thế "ngàn cân treo sợi tóc", Chủ tịch Hồ Chí Minh phải sang Pháp dự Hội nghị Fontainbleau để đàm phán hòa bình, Người đã tin tưởng trao lại quyền lãnh đạo đất nước cho Cụ Huỳnh Thúc Kháng trên cương vị Quyền Chủ tịch nước. Trước khi lên đường, Bác Hồ đã dặn dò Cụ Huỳnh một câu nói lịch sử: "Dĩ bất biến, ứng vạn biến" (Lấy cái không thay đổi để ứng phó với muôn vàn sự thay đổi). Trong suốt thời gian Bác đi vắng, Cụ Huỳnh đã chèo lái con thuyền đất nước vô cùng tài tình, kiên quyết trừng trị bọn phản động Việt Quốc, Việt Cách trong vụ án phố Ô Ôn Như Nguyệt, giữ vững an ninh trật tự, đồng thời mở rộng khối Đại đoàn kết toàn dân thông qua việc thành lập Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam (Hội Liên Việt).

Dấn thân lên chiến khu chống Pháp, sự hy sinh và di sản tinh thần bất tử

Khi cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp bùng nổ vào cuối năm 1946, dù tuổi cao sức yếu, Cụ Huỳnh Thúc Kháng vẫn kiên quyết không ở lại vùng địch chiếm mà dấn thân lên chiến khu, đảm nhận trọng trách Hội trưởng Hội Liên Việt và Đại diện Chính phủ Trung ương tại Ủy ban Hành chính Kháng chiến Miền Nam Trung Bộ. Cụ đã không quản ngại đường xá xa xôi, vượt qua sông sâu núi cao để đi khắp các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định vận động nhân dân, sĩ phu và các tầng lớp tôn giáo đồng lòng ủng hộ cuộc kháng chiến trường kỳ do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo. Sự hiện diện của Cụ tại chiến trường Liên khu 5 đã trở thành ngọn ngọn đuốc tinh thần to lớn, thôi thúc muôn dân đóng góp sức người sức của cho mặt trận.

Tháng 4 năm 1947, do gian khổ của đường kỳ kháng chiến và tuổi tác đã cao, Cụ Huỳnh Thúc Kháng đã trút hơi thở cuối cùng tại huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi trong sự niềm thương tiếc vô hạn của toàn thể nhân dân. Trước khi qua đời, Cụ đã gửi bức thư từ biệt Chủ tịch Hồ Chí Minh và đồng bào cả nước, khẳng định niềm tin sắt đá vào chiến thắng cuối cùng của dân tộc. Nhận được tin Cụ mất, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ngậm ngùi viết lời viếng: "Cụ Huỳnh là một người đạo đức, chí công vô tư, đời sống giản dị, không danh không lợi, hết lòng vì nước vì dân". Cuộc đời và sự nghiệp của Cụ Huỳnh Thúc Kháng là tấm gương sáng ngời về đạo đức sĩ phu, tình yêu nước nồng nàn và biểu tượng bất diệt cho khối Đại đoàn kết dân tộc Việt Nam.


BÀI 9: ANH HÙNG CÙ CHÍNH LAN – NGƯỜI

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
CỤ HUỲNH THÚC KHÁNG – BIỂU TƯỢNG ĐẠI ĐOÀN KẾT VÀ CHÍ KHÍ SĨ PHU TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP | Câu chuyện thời hoa lửa