Cụ Huỳnh Thúc Kháng – Ngọn đèn pha trí tuệ, chí sĩ kiên trung và biểu tượng đại đoàn kết dân tộc
Trong dòng chảy lịch sử Việt Nam thế kỷ XX, có những nhân vật mà cuộc đời và sự nghiệp đã trở thành gạch nối thiêng liêng giữa truyền thống khoa bảng phong kiến với ngọn lửa cách mạng hiện đại. Cụ Huỳnh Thúc Kháng chính là một nhân cách lớn như thế. Từ một bậc đại khoa bảng dẫn đầu phong trào Duy Tân đến người tù kiên trung ở Côn Đảo, một nhà báo sắc bén với tờ Tiếng Dân và sau cùng là Quyền Chủ tịch nước Dân chủ Cộng hòa Việt Nam, Cụ Huỳnh là biểu tượng sáng ngời về trí tuệ, khí tiết và lòng yêu nước nồng nàn của trí thức Việt Nam.
Trong dòng chảy lịch sử Việt Nam thế kỷ XX, có những nhân vật mà cuộc đời và sự nghiệp đã trở thành gạch nối thiêng liêng giữa truyền thống khoa bảng phong kiến với ngọn lửa cách mạng hiện đại. Cụ Huỳnh Thúc Kháng chính là một nhân cách lớn như thế. Từ một bậc đại khoa bảng dẫn đầu phong trào Duy Tân đến người tù kiên trung ở Côn Đảo, một nhà báo sắc bén với tờ Tiếng Dân và sau cùng là Quyền Chủ tịch nước Dân chủ Cộng hòa Việt Nam, Cụ Huỳnh là biểu tượng sáng ngời về trí tuệ, khí tiết và lòng yêu nước nồng nàn của trí thức Việt Nam.
Cụ Huỳnh Thúc Kháng (1876 – 1947), tự Mẫn Đạt, hiệu Tiên Sơn, sinh ra tại làng Thạnh Bình, xã Tiên Cảnh, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam – vùng đất giàu truyền thống văn hiến và chí khí quật cường. Sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo, Cụ nổi tiếng thông minh và hiếu học từ nhỏ. Năm 1904, Cụ đỗ Tiến sĩ (Giải nguyên khoa Bính Ngọ), trở thành một trong những đỉnh cao khoa bảng đương thời. Tuy nhiên, thay vì bước vào con đường quan lộ vinh hoa để phụng sự triều đình nhà Nguyễn vốn đã nhu nhược trước thực dân Pháp, Cụ Huỳnh đã chọn con đường gian khổ: dấn thân vì tự do của dân tộc và sự sống còn của đồng bào.
Cùng với những nhà cách mạng tiên phong như Phan Châu Trinh và Trần Quý Cáp, Cụ Huỳnh Thúc Kháng đã khởi xướng và lãnh đạo phong trào Duy Tân ở Trung Kỳ (1904 – 1908). Với phương châm "Khai dân trí,振 dân khí, hậu dân sinh", Cụ cùng các chí sĩ đã hăng hái mở trường học mới, cổ vũ lối sống văn minh, vận động phát triển thương nghiệp, hô hào canh tân đất nước. Phong trào nhanh chóng lan rộng, làm thức tỉnh tinh thần tự cường của quần chúng nhân dân.
Sự phát triển mạnh mẽ của phong trào Duy Tân khiến chính quyền thực dân Pháp hoảng sợ. Năm 1908, sau cuộc biến động chống thuế ở Trung Kỳ, Cụ Huỳnh Thúc Kháng bị bắt và bị đày ra Côn Đảo – nơi được mệnh danh là "địa ngục trần gian". Trong suốt 13 năm giam cầm (1908 – 1921), đối mặt với chế độ lao tù hà khắc và sự bào mòn của thời gian, Cụ vẫn giữ vững khí tiết bất khuất, tự rèn luyện tri thức và nâng cao ý chí đấu tranh.
Sau khi được trả tự do, Cụ Huỳnh tiếp tục con đường cứu quốc bằng một thứ vũ khí sắc bén: Báo chí. Năm 1927, Cụ sáng lập báo Tiếng Dân tại Huế – tờ báo tiếng Việt đầu tiên ở Trung Kỳ. Suốt 16 năm tồn tại dưới sự kiểm duyệt nghiệt ngã của chính quyền thực dân, Tiếng Dân dưới sự dẫn dắt của Cụ Huỳnh đã trở thành ngọn cờ đầu, dũng cảm lên tiếng bảo vệ quyền lợi của nhân dân, vạch trần những bất công xã hội, truyền bá tri thức và nuôi dưỡng ngọn lửa yêu nước trong lòng sĩ phu và nhân dân.
Sự nghiệp và nhân cách của Cụ Huỳnh Thúc Kháng tỏa sáng rực rỡ nhất sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Mặc dù là một nhà nho học thuộc thế hệ trước, không thuộc Đảng Cộng sản, nhưng trước tầm nhìn và nhân cách cao cả của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Cụ đã gạt bỏ mọi biệt nhãn để ra gánh vác việc nước. Cụ lần lượt giữ các chức vụ quan trọng: Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Chủ tịch Hội Liên Việt.
Đặc biệt, vào năm 1946, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp đàm phán, Cụ Huỳnh Thúc Kháng đã được tin cậy giao giữ chức Quyền Chủ tịch nước. Trong giai đoạn "ngàn cân treo sợi tóc" của chính quyền cách mạng non trẻ, thấm nhuần lời dặn dò lịch sử của Bác Hồ: "Dĩ bất biến, ứng vạn biến" (Lấy cái không thay đổi để ứng phó với muôn vàn sự thay đổi), Cụ Huỳnh đã thể hiện trọn vẹn bản lĩnh và trí tuệ. Cụ đã chèo lái con thuyền cách mạng vượt qua nhiều giông tố, giữ vững an ninh nội địa và đập tan nhiều âm mưu chống phá của kẻ thù.
Năm 1947, khi đang đi kinh lý tại Quảng Ngãi để vận động nhân dân kháng chiến chống Pháp, Cụ Huỳnh Thúc Kháng lâm bệnh nặng và trút hơi thở cuối cùng vào ngày 21 tháng 4 năm 1947, hưởng thọ 71 tuổi. Trong bức thư gửi đồng bào cả nước sau sự ra đi của Cụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xúc động viết:
"Cụ Huỳnh là một người đạo đức, chí công vô tư, thái sơn bắc đẩu của dân tộc Việt Nam... Cụ mất đi, nước ta mất một người hiền tài, tôi mất một người bạn tri kỷ."
Cả cuộc đời Cụ Huỳnh Thúc Kháng là một tấm gương sáng ngời về lòng yêu nước chân chính, sự thanh cao, liêm chính và tinh thần đại đoàn kết dân tộc. Cụ đã chứng minh rằng: khi lợi ích của Tổ quốc được đặt lên trên hết, mọi khoảng cách về tư tưởng hay thế hệ đều có thể vượt qua để cùng chung tay dựng xây và bảo vệ đất nước. Tên tuổi và sự nghiệp của Cụ Huỳnh Thúc Kháng sẽ mãi mãi khắc sâu trong lịch sử Việt Nam như một biểu tượng bất tử của trí tuệ và khí tiết dân tộc.



