Bài viết

Cứ một tráNỗi niềm bức thư kỷ vật

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng rất nhiều lá thư thời chiến đã ố vàng vì mưa nắng và xỉn màu thời gian hiện vẫn đang được nhiều gia đình lưu giữ như những kỷ vật quý. Sau khi gửi tới Nguyệt san Sự kiện và Nhân chứng bản sao của những lá thư, nhiều người trong số họ đã chân thành bộc bạch và sẻ chia những nỗi niềm ẩn sau từng trang viết...Chiến tranh đã lùi xa, nhưng rất nhiều lá thư thời chiến đã ố vàng vì mưa nắng và xỉn màu thời gian hiện vẫn đang được nhiều gia đình lưu giữ như những kỷ vật quý.

Hà Tĩnh12/04/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng rất nhiều lá thư thời chiến đã ố vàng vì mưa nắng và xỉn màu thời gian hiện vẫn đang được nhiều gia đình lưu giữ như những kỷ vật quý. Sau khi gửi tới Nguyệt san Sự kiện và Nhân chứng bản sao của những lá thư, nhiều người trong số họ đã chân thành bộc bạch và sẻ chia những nỗi niềm ẩn sau từng trang viết...

Di ảnh liệt sĩ Nguyễn Trọng Hoan. Ảnh do gia đình cung cấp

Nhận thư nhà mà lòng đau tê tái

Xã An Ninh thuộc huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên đầu những năm 1960 dày đặc ấp chiến lược với hàng rào dây thép gai của Sư đoàn lính đánh thuê Đại Hàn mang tên Bạch Mã. Cuối năm 1963, xã được giải phóng, nhưng sau đó lại bị quân địch tái chiếm. Từ ngày giặc đến, cuộc sống người dân nơi đây bị xáo trộn, cảnh loạn lạc, chia ly, bắt bớ... thường xuyên xảy ra. Người con của quê hương An Ninh - cựu chiến binh Cao Phi Yến – thời điểm ấy đang là cán bộ tập kết ở ngoài Bắc, kể lại: “Ở ngoài Bắc, nhiều lần tôi gửi thư về nhà theo hòm thư Ban Thống Nhất, nhưng chỉ hai lần tôi nhận được hồi âm của người thân. Trong hoàn cảnh gia đình ly tán, hai lần nhận thư của người anh là hai lần tôi được biết về những chuyện buồn ở quê nhà...”.

Ông Cao Phi Yến đã gửi tới người biên soạn bút tích lá thư của người anh trai tên là Cao Dần - hiện trú tại thôn Tiên Châu (xã An Ninh, Tuy An, Phú Yên). Trong thư, ông Dần viết:

“Tiên Châu, ngày 20-9-1964.

Em Yến!

Đây là bức thư đầu tiên anh gửi đến em, lại là lần đầu tiên anh báo cho em biết tin buồn: Cha chúng ta đã mất cách đây 4 năm, vào đêm 30-9-1960 (âm lịch). Cha mất trong hoàn cảnh gia đình ly tán. Hiện tại, mẹ của chúng ta vẫn còn mạnh khỏe nhưng nhiều đêm mẹ thao thức vì buồn, mẹ vẫn mòn mỏi trông ngóng tin em ở phương trời xa lắc.

Từ ngày em đi tập kết thì gia đình không còn ở Diêm Điền nữa mà đã dời về Tiên Châu để dựng lại căn nhà nhỏ trên nền cũ. Nền đất của nhà mình ngày nay đã khác hẳn, hàng cây quanh nhà đã nhường chỗ cho hàng rào dây thép gai của ấp chiến lược... Em Quyên hiện nay vẫn sống cô đơn, đang làm công nhân đồn điền cà phê ở Buôn Ma Thuột. Còn Tiên sau khi bị địch đánh đập, giam cầm suốt 3 năm vừa mới được trả tự do. Sau khi cưới vợ, Tiên xin dạy tư ở làng cũng đủ kiếm sống, nhưng gần đây hai vợ chồng vì sợ bị địch khủng bố nên đã dời lên Buôn Ma Thuột làm ăn... Về phần em Nhạn mấy năm trước cũng bị bắt bớ, giam cầm ở tỉnh gần hai năm, nhưng giờ thì xin được làm hộ sinh cho một doanh điền ở Tây Nguyên. Còn anh Hai hiện nay không còn ở An Định nữa mà đã dời về xóm Ngựa An Dân...

Nhìn vào cảnh gia đình, em có thể thấy hiện nay gia đình mình đã ly tán kẻ Nam, người Bắc. Mẹ già một mình sống côi cút trong túp lều tranh với hai vợ chồng anh và các cháu. Mấy năm trước, anh vẫn ở An Định làm nghề may kiếm sống, dưới sự kìm kẹp, áp bức của giặc. Cuộc sống ở đây cơ cực lắm, sau khi cha mất, vợ chồng anh phải dắt díu nhau về ở với má. Cuộc sống ở đây cũng chẳng hơn gì ở An Định. Rủi cho anh là khi về đến Tiên Châu thì anh bị mắc chứng bệnh tê bại, đi lại khó khăn. Ba năm nay, bên mẹ già, bên vợ yếu, bên con dại, vậy mà anh lại phải quanh quẩn trong nhà không làm ăn gì được...”.

Năm 1973, ông Cao Phi Yến nhận được lá thư thứ hai từ người anh trai. Lại một tin buồn khác ập đến: Mẹ ông đã chết từ năm 1966 sau một trận càn lớn của giặc Mỹ. Những trang thư mà người anh trai gửi ra từ vùng kìm kẹp của địch càng làm cho lòng ông thêm tê tái: “Ngày mẹ chết, làng xóm vắng tanh, anh phải nhờ một người hàng xóm cùng anh tập tễnh khiêng mẹ đi trong đêm tối. Chẳng dám thắp đèn dầu vì sợ giặc trở lại càn, hai người lặng lẽ khiêng mẹ ra động cát chôn vội...”. Cựu chiến binh Cao Phi Yến cho biết, trong lần hồi âm thứ hai này, ông còn nhận được một lá thư gửi kèm của một người cháu tên là Lưu Minh Tâm. Trong thư, đứa cháu viết: “Nhờ bác Yến nói giùm với ba con rằng: Ba hãy tha thứ cho má, vì phải đi làm ở sở Mỹ kiếm sống mà má đã bị bọn chúng hãm hiếp...”.

Ông Yến tâm sự: “Đọc lá thư thứ hai này, tôi thấy gia cảnh nhà mình thật không gì đau xót bằng. Đúng là khi đất nước có giặc thì chẳng gia đình nào có được hạnh phúc”. Qua thư của người anh trai, ông Yến đã thấy rõ lòng yêu nước, căm thù giặc của người dân quê mình khi sống giữa nanh vuốt kẻ thù. Người anh của ông cũng luôn hiểu những âm mưu đen tối của địch và tin tưởng vào thắng lợi của cách mạng, tin tưởng vào con đường người em trai đã chọn: “Nếu một ngày lá thư này đến tay em, cho anh gửi lời chúc mừng cũng như lời nhắn nhủ: Em hãy cố gắng trên con đường cách mạng để ngày về mang lại sự bình yên và mang đến những điều mới mẻ cho quê hương, xứ sở mình...” (Thư ngày 20-9-1964).

Lá thư ông Cao Dần gửi cho em trai Cao Phi Yến (ngày 20-9-1964). Ảnh: Quang Huy

“Thư đã về nhưng con còn nằm lại...”

Một bức thư do người mẹ viết gửi cho con trai, một giấy chứng nhận kết nạp Đảng tại chiến trường và chiếc ba lô thủng nhiều vết đạn, đó là những di vật được đồng đội chuyển về cho gia đình, còn chủ nhân của những di vật ấy - Trung sĩ Nguyễn Trọng Hoan – đã vĩnh viễn không trở về sau những trận chiến đấu ác liệt tại vùng đất Quảng Trị.

Sau hơn 40 năm kể từ ngày Nguyễn Trọng Hoan hy sinh, thân phụ của liệt sĩ là ông Nguyễn Xuân Toàn (Số 57, tổ 26, phố Vườn Cam, phường Hợp Giang, thị xã Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng) đã gửi tới người biên soạn lá thư kỷ vật và những câu chuyện xúc động về tấm lòng tri ân của người dân vùng đất Triệu Phong, Quảng Trị - nơi con trai ông hy sinh: “Tôi gửi Tòa soạn bức thư có trong ba lô của Hoan, đây là bức thư mẹ Hoan viết động viên con trong những ngày làm nhiệm vụ ở chiến trường. Năm 1974, trước khi mất vì lâm bệnh hiểm nghèo, vợ tôi luôn day dứt: Bao nhiêu năm nay, thư và những di vật đã trở về với gia đình, vậy mà con thì vẫn còn nằm lại... Nhà tôi luôn mong mỏi và muốn tôi cố gắng thực hiện một điều, đó là: hãy vào Quảng Trị tìm và đưa hài cốt con về quê”...

Lật giở những trang thư kỷ vật được viết cách đây vừa tròn bốn thập kỷ, bà Nguyễn Thị Đào, mẹ của liệt sĩ Hoan (khi đó đang là Hội phó Hội Phụ nữ thị xã Cao Bằng), đã có những dòng thư động viên con trai:

“Hoan ạ, mẹ rất phấn khởi và tự hào vì đã có đứa con biết về nghĩa lớn, đã đem hết khả năng của mình cống hiến cho Tổ quốc. Con đã xác định được trách nhiệm của một thanh niên trong thế hệ Hồ Chí Minh, con đã lớn lên và trưởng thành nhiều trong chiến đấu, đã vững vàng về mặt lập trường tư tưởng, có đầy đủ nghị lực vượt mọi khó khăn gian khổ... Con cần phát huy hơn nữa những đức tính tốt đẹp của mình để xứng đáng là một thanh niên của quê hương cách mạng.

Vừa qua, nghe mong manh là mấy người bạn của con cùng đi đã hy sinh phải không? Biết làm sao được, trong chiến tranh, tất nhiên là có hy sinh, mất mát, chỉ khi nào diệt hết Mỹ-ngụy thì ta mới không phải đổ máu nữa...

Liệu sắp tới con có được về phép không? Mẹ đã nuôi sẵn hai con lợn và chờ con về để mổ đấy. Nếu con được về thì sẽ vui sướng biết bao, lúc đó bố mẹ và các em sẽ cùng ngồi quây quần nghe con kể chuyện chiến đấu....” (Thư ngày 1-7-1971).

Theo lời kể của đồng đội Trung đoàn pháo 84 (Sư đoàn 325), có lần Nguyễn Trọng Hoan và một chiến sĩ được đơn vị cử đi trinh sát sân bay Ái Tử. Khi đồng đội bị vướng mìn và bị thương ở chân, Hoan đã lấy vải quấn chặt vết thương lại rồi sau đó cõng đồng đội về trạm quân y cách đó 3 cây số. Nhờ được kịp thời cứu chữa nên chiến sĩ đi cùng đã qua cơn nguy kịch. Sau lần ấy, Nguyễn Trọng Hoan được Trung đoàn biểu dương và được kết nạp Đảng ngay tại Mặt trận...

Năm 1997, thực hiện tâm nguyện của người vợ, ông Toàn đã vào vùng đất Triệu Phong, Quảng Trị để tìm kiếm thông tin và xác định được nơi con trai mình hy sinh là tại địa bàn xã Triệu Lương. Ông và những người thân trong gia đình đã cảm thấy ấm lòng khi được biết trong suốt hơn 20 năm, phần mộ của Nguyễn Trọng Hoan đã được người dân địa phương trông nom, hương khói. “Hôm tới làng Trung Chỉ, tôi khá ngạc nhiên khi được biết con trai mình đã được gia đình anh Trần Khắc Khảm lập am thờ ngay tại vườn nhà, bất ngờ hơn khi biết anh Khảm từng là chiến binh của chế độ cũ”, ông Toàn xúc động kể lại. Người dân Triệu Lương còn cho biết: Năm 1990, trước khi quy tập hài cốt liệt sĩ Hoan từ vườn nhà anh Khảm về nghĩa trang xã Triệu Lương, khi cất bốc, bà con đã cho thêm chiếc chén vào hài cốt để sau này gia đình có thể xác định chính xác phần mộ của người thân.

Sau hơn 20 năm nằm lại vùng đất Quảng Trị, ngày 24-3-1997, Nguyễn Trọng Hoan đã được gia đình đưa về yên nghỉ tại quê hương Cao Bằng, đúng như điều mà mẹ anh từng mong mỏi trước khi nhắm mắt...

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn