CỤ NGHÈ TRƯƠNG GIA MÔ – NHÀ NHO DUY TÂN YÊU NƯỚC, NGƯỜI CÓ CÔNG GIÚP ĐỠ CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH TRÊN ĐƯỜNG CỨU NƯỚC
1. Giới thiệu chung
Trong lịch sử dân tộc Việt Nam cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX, bên cạnh những tên tuổi lớn như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Lương Văn Can…, còn có nhiều sĩ phu yêu nước tuy ít được nhắc đến nhưng đã âm thầm đóng góp cho công cuộc canh tân đất nước và phong trào giải phóng dân tộc. Một trong những người đó là Cụ Nghè Trương Gia Mô, người làng Hà Thủy - Duồng (nay thuộc xã Chí Công, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận).
Cụ là một nhà nho duy tân, có tư tưởng tiến bộ, từng có nhiều đóng góp cho phong trào chấn hưng dân trí, phát triển kinh tế, và đặc biệt là người đã trực tiếp giúp đỡ Nguyễn Tất Thành – sau này là Chủ tịch Hồ Chí Minh – trong bước đầu trên hành trình tìm đường cứu nước.
Ngày nay, tên tuổi của Cụ Trương Gia Mô được tưởng nhớ qua đường mang tên ông ở thành phố Phan Thiết, đền thờ và trường học tại Châu Đốc, An Giang – nơi ông mất, cùng bàn thờ tưởng niệm tại chùa Từ Quang, xã Chí Công, Tuy Phong.
2. Cuộc đời và sự nghiệp của Cụ Trương Gia Mô
2.1. Thân thế và tuổi thơ
Cụ Trương Gia Mô sinh năm 1866 tại Bến Tre. Khi mới một tuổi, ông theo gia đình đến sinh sống tại làng Duồng (Hà Thủy), Bình Thuận. Cha ông là Trương Gia Hội, một vị quan có chức Tuần vũ, phụ trách ba tỉnh Bình Thuận – Ninh Thuận – Khánh Hòa. Khi ông mới 11 tuổi, cha mất, Cụ Mô được mẹ trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục nghiêm khắc, hình thành trong ông ý chí tự lập, tinh thần học tập và lòng yêu nước sớm nảy nở.
2.2. Con đường học vấn và quan lộ
Nhờ tư chất thông minh, hiếu học, Cụ Mô đỗ đạt cao, được nhân dân kính trọng gọi là “Cụ Nghè”. Khi ngoài 20 tuổi, ông ra làm quan tại kinh đô Huế. Tại đây, ông kết nghĩa huynh đệ với Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc – thân phụ của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Mối thâm tình giữa hai người đã trở thành sợi dây gắn kết, ảnh hưởng sâu sắc đến con đường tư tưởng và hành động của ông sau này.
2.3. Tư tưởng duy tân và hoạt động yêu nước
Khi 26 tuổi, Cụ Trương Gia Mô đã dâng lên triều đình bản “Điều trần cải cách xã hội”, đề nghị thực hiện năm việc cấp thiết để chấn hưng đất nước. Tuy nhiên, do triều đình nhà Nguyễn bảo thủ và e dè, bản điều trần ấy không được chấp thuận. Không nản lòng, ông xin đi sứ sang Pháp để học hỏi văn minh phương Tây với mong muốn mở mang dân trí, canh tân quốc gia, nhưng yêu cầu ấy cũng bị bác bỏ.
Thất vọng trước thái độ bảo thủ của triều đình, ông từ quan, quyết định vào Nam, tìm đường xuất dương và truyền bá tinh thần yêu nước. Trên đường đi, ông gặp gỡ nhiều chí sĩ, dạy học, bốc thuốc, làm thơ, và lan tỏa tư tưởng duy tân đến các tầng lớp nhân dân.
2.4. Giai đoạn hoạt động tại Bình Thuận
Năm 38 tuổi, Cụ trở về làng Hà Thủy, Duồng sinh sống. Ông mở hiệu thuốc, dạy học và liên lạc với các chí sĩ yêu nước trong vùng. Đặc biệt, ông cùng nhiều nhân sĩ Bình Thuận góp phần vào việc thành lập Trường Dục Thanh, Liên Thành thư xã và Liên Thành thương quán – ba tổ chức có vai trò quan trọng trong việc mở mang dân trí, chấn hưng kinh tế và giáo dục lòng yêu nước. Đây cũng chính là nơi Nguyễn Tất Thành từng dạy học trước khi vào Sài Gòn.
3. Cuộc gặp gỡ lịch sử với Nguyễn Tất Thành
Một trong những dấu ấn lớn nhất trong cuộc đời của Cụ Nghè Trương Gia Mô là cuộc gặp gỡ vào tháng 8 năm 1910 với Nguyễn Tất Thành (khi đó mới 20 tuổi). Khi nghe tin người thanh niên ấy có chí hướng cứu nước, ông đã đón tiếp, giúp đỡ tận tình. Ông sắp xếp cho Nguyễn Tất Thành ở tạm tại chùa Phước An để tránh bị theo dõi, đồng thời nhiều đêm đàm đạo, trao đổi về con đường cứu nước tại chính nhà mình.
Đến tháng 9 năm 1910, Cụ Mô đưa Nguyễn Tất Thành rời Duồng vào Phan Thiết, giới thiệu dạy học tại Trường Dục Thanh. Sau đó, ông còn giúp làm giấy thông hành với tên Văn Ba, chu cấp kinh phí và giới thiệu người giúp đỡ để Nguyễn Tất Thành vào Sài Gòn, chuẩn bị xuất dương tìm đường cứu nước. Sự giúp đỡ thầm lặng nhưng đầy ý nghĩa ấy đã góp phần mở ra một bước ngoặt lớn trong hành trình cứu nước của dân tộc Việt Nam.
4. Những năm cuối đời
Sau khi Nguyễn Tất Thành rời Phan Thiết, Cụ Nghè Trương Gia Mô bị thực dân Pháp truy lùng gắt gao vì những hoạt động duy tân và giúp đỡ các chí sĩ. Ông phải ẩn náu nhiều nơi, từ Bình Thuận vào khắp Nam Kỳ, rồi cuối cùng qua đời tại Núi Sam, Châu Đốc (nay thuộc tỉnh An Giang).
Sau này, gia đình cải táng di hài của ông và đưa về an táng tại khu mộ gia tộc ở dốc Hồi Long, thôn Thanh Lương, xã Chí Công, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận.
5. Di sản và tưởng niệm
Tưởng nhớ công lao và nhân cách của ông, ngày nay:
Thành phố Phan Thiết có đường mang tên Trương Gia Mô.
Tại Châu Đốc, An Giang – nơi ông mất – có đền thờ và trường học mang tên ông.
Chùa Từ Quang (xã Chí Công, Tuy Phong) cũng lập án thờ tưởng niệm.
Hình ảnh và công lao của ông cũng được tái hiện trong nhiều bộ phim về Chủ tịch Hồ Chí Minh như “Nhìn ra biển cả”, “Hẹn gặp lại Sài Gòn”…, ghi nhận vai trò của ông trong giai đoạn đầu đời hoạt động của Bác.
6. Kết luận
Cụ Nghè Trương Gia Mô là hình mẫu tiêu biểu của một nhà nho yêu nước, có tư tưởng duy tân, hết lòng vì dân vì nước. Dù không cầm quân đánh giặc, không nổi danh như các lãnh tụ cách mạng, nhưng tư tưởng khai sáng và tinh thần canh tân của ông đã góp phần đặt nền móng cho phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX. Đặc biệt, việc giúp đỡ Nguyễn Tất Thành trên bước đường đầu tiên tìm đường cứu nước là minh chứng cho tấm lòng nhân nghĩa, trí tuệ và tầm nhìn vượt thời đại của ông. Tên tuổi của Cụ Trương Gia Mô mãi mãi được nhân dân Bình Thuận và cả nước ghi nhớ như một người thầy, một chí sĩ yêu nước thầm lặng, sống trọn đời cho dân tộc.
Huyền thoại Đội K53
60 năm trước có một Đội Thanh niên xung phong đặc biệt đã viết lên huyền thoại giữa Trường Sơn. Cho đến hôm nay họ vẫn bền bỉ "thắp lửa" yêu nước cho thế hệ trẻ.
60 năm đã trôi qua kể từ ngày Đội Thanh niên xung phong (TNXP) K53 ra đời (13.7.1965 - 13.7.2025), nhưng ký ức về một đơn vị đặc biệt - Đội TNXP duy nhất của Đoàn Thanh niên được cử vào chiến trường miền Nam, vẫn còn vẹn nguyên trong lời kể của đồng chí Đỗ Quốc Phong, Trưởng ban Liên lạc K53, nguyên Chủ tịch Hội Cựu TNXP Hà Nội. Với ông, mỗi con đường, mỗi bến sông năm xưa đều thấm đẫm mồ hôi, nước mắt và máu của đồng đội.
Mở đường, gùi hàng, vượt sông trong lửa đạn
Năm 1965, khi đế quốc Mỹ chuyển sang chiến lược "Chiến tranh cục bộ", miền Bắc phải đối mặt với những đợt ném bom ác liệt. Trước yêu cầu cấp bách của chiến trường Trị - Thiên - Huế, T.Ư Đoàn quyết định thành lập Đội TNXP K53, một đơn vị đặc biệt với 343 đội viên được tuyển chọn kỹ lưỡng từ Hà Tây, Nam Định, Ninh Bình (cũ) và một số cán bộ, y bác sĩ người Quảng Trị - Huế. Đây là Đội TNXP duy nhất của Đoàn Thanh niên được cử vào chiến trường miền Nam.
Ngày 13.7.1965, các đội viên tập trung tại Trường Đoàn (Cầu Giấy, Hà Nội) để huấn luyện. Sau hơn 1 tháng huấn luyện, ngày 16.8.1965, K53 làm lễ xuất quân, chính thức lên đường vào chiến trường miền Tây Trị - Thiên. Nhiệm vụ của họ không chỉ là mở đường, vận tải, mà còn làm công tác thanh vận, dân vận. Đây là điểm độc đáo của K53, khi các đội viên được trang bị như cán bộ dân chính, sẵn sàng cho những thử thách cam go phía trước.
Theo đồng chí Đỗ Quốc Phong, hành trình của K53 là chuỗi ngày dài kiên cường và gian khổ. Sau 2 tháng hành quân bộ, Đội K53 đến A Lưới (Thừa Thiên) chờ nhận nhiệm vụ. Khi chiến trường trở nên ác liệt, vùng giải phóng Trị - Thiên bị thu hẹp, đội nhận lệnh hành quân ngược ra bắc sông Bến Hải, rồi rẽ xuống xã Vĩnh Ô. Từ đây, các đội viên lại vượt sông Bến Hải để mở con đường mới song song với đường mòn Hồ Chí Minh, nối liền từ nam Bến Hải đến nam sông Ba Lòng (Quảng Trị). Trên tuyến đường này, K53 thiết lập 8 trạm vận chuyển vũ khí, hàng hóa, thuốc men vào Nam và cáng thương binh ra Bắc.
"Hai tiểu đội Ninh Bình và một tiểu đội Hà Tây được giao nhiệm vụ lái đò và bảo vệ bến đò Cà Ná trên sông Ba Lòng, nằm giữa cứ điểm 241 và cứ điểm Đầu Mầu. Hằng đêm, hàng chục tấn hàng hóa và nhiều đoàn cán bộ, chiến sĩ vượt sông trên những chiếc đò độc mộc chỉ chở được 6 - 7 người, giữa dòng nước xiết và đá ngầm", đồng chí Phong nhớ lại. Ban đầu, mỗi đội viên chỉ gùi được 20 - 24 kg mỗi chuyến. Sau đó, bằng ý chí và rèn luyện, họ nâng lên 40 - 46 kg/chuyến, thậm chí nhiều người đạt năng suất 26 - 28 ngày công/tháng.
Đến cuối năm 1966 - đầu 1967, trước nhu cầu vận chuyển ngày càng lớn, các đội viên K53 đề xuất phối hợp với Đoàn vận tải Bắc Sơn (chủ yếu là chiến sĩ đồng bào dân tộc Tà Ôi, Vân Kiều) và Tiểu đoàn 8 của Quân khu 4. Sự kết hợp này đã hình thành tuyến đường Bắc Sơn, kéo dài từ nam Bến Hải đến bắc Hải Vân - tuyến huyết mạch chi viện cho chiến trường. Đặc biệt, nhờ sự phối hợp giữa K53 và cán bộ, du kích địa phương, một con đò lớn có thể chở cả trung đội qua sông đã ra đời, tồn tại cho đến khi Hiệp định Paris được ký kết năm 1973.
K53 trở thành lực lượng nòng cốt trong công tác vận tải và giao liên trên các tuyến đường mới do Quân khu Trị - Thiên - Huế mở rộng, kết nối với đường dây 559 và các nhánh đường ngang xuống đồng bằng, chi viện cho bộ đội địa phương.
Vinh quang và máu lửa
Cuối năm 1967, với thành tích xuất sắc, Đội K53 được cử 2 đại biểu dự Đại hội Anh hùng, Chiến sĩ thi đua Quân khu. Đội được suy tôn là lá cờ đầu ngành hậu cần Quân khu và vinh dự nhận Huân chương Chiến công hạng nhất. Đồng chí Đỗ Quốc Phong và Đại đội trưởng Nguyễn Nam Hải là 2 đại biểu tiêu biểu được trao danh hiệu Chiến sĩ thi đua. Hàng chục đội viên được phong danh hiệu "Dũng sĩ quyết thắng" và "Dũng sĩ vận tải" cấp ưu tú.
Nhớ lại những ngày tháng oanh liệt, đồng chí Đỗ Quốc Phong không khỏi bùi ngùi về những đồng đội đã không thể trở về. Trên chiến trường ác liệt ấy, K53 đã ghi dấu nhiều chiến công và cả những mất mát không thể nào quên. Trung đội phó Trịnh Đình Chu (Yên Khánh, Ninh Bình) anh dũng chiến đấu, hạ 13 tên địch, khi hết đạn đã đập vỡ súng, dùng AK chiến đấu đến cùng và hy sinh. Đồng chí Hoàng Văn Hợp và ông Lê Thống dùng súng thu hút hỏa lực máy bay địch, hy sinh để đồng đội rút vào rừng. Đồng chí Lê Huân dùng súng bộ binh bắn hạ trực thăng địch. Trung đội trưởng Nguyễn Tiền Bách và Tiểu đội trưởng Nguyễn Danh Nhiễm hy sinh khi chiến đấu với biệt kích đối phương… "Hình ảnh anh nuôi Nguyễn Văn Còn ngay trước khi hy sinh vẫn lo nồi cơm bị cháy, sợ anh em đói đã trở thành biểu tượng cao đẹp của tình đồng chí, đồng đội", Đồng chí Đỗ Quốc Phong nghẹn ngào kể.
Kháng chiến kết thúc, 111 đội viên K53 hy sinh, 167 người bị thương và nhiều người khác chịu sức ép, nhiễm chất độc da cam. Nhưng chính từ gian khổ, mất mát ấy, tên tuổi của K53 đã trở thành huyền thoại trong lực lượng TNXP VN.
Mong lớp trẻ hôm nay hiểu được giá trị của hòa bình
Sau ngày đất nước thống nhất, những thanh niên K53 năm xưa trở về với cuộc sống đời thường. Có người thành kỹ sư, bác sĩ, thầy giáo; có người tiếp tục phục vụ trong quân đội, mang phẩm chất TNXP vào công cuộc xây dựng Tổ quốc. Trong hơn 3 thập niên qua, các cựu TNXP K53 đã góp phần quan trọng vào phong trào cựu TNXP cả nước. Nhiều người là hạt nhân tích cực trong các hoạt động xã hội, chăm lo cho đồng đội khó khăn…
Với những thành tích đặc biệt, Đội K53 đã được Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết ký quyết định phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân; được tặng Cờ thi đua xuất sắc năm 1967 - 1972. Đặc biệt, các đội viên K53 đã nhận hàng ngàn huân chương chiến công các loại.
Năm 2025, kỷ niệm 60 năm ngày thành lập Đội K53, đồng chí Đỗ Quốc Phong xúc động nói: "Chúng tôi, những người còn lại, chỉ mong lớp trẻ hôm nay hiểu được giá trị của hòa bình. Những con đường chúng tôi mở năm xưa không chỉ để vận chuyển vũ khí, mà còn là con đường đi tới độc lập, tự do. Giữ gìn hòa bình hôm nay chính là tiếp nối con đường ấy".
Từ những năm tháng hành quân giữa rừng Trường Sơn đến cuộc sống bình dị hôm nay, Đội TNXP K53 luôn là biểu tượng của lòng dũng cảm, tinh thần xung phong và niềm tin sắt son vào Đảng, vào Tổ quốc. "Đội TNXP K53 là một đơn vị đặc biệt, với chiến công đặc biệt và truyền thống đặc biệt", đồng chí Đỗ Quốc Phong tự hào khẳng định. 60 năm qua, những người lính TNXP năm nào vẫn âm thầm viết tiếp trang sử của mình trong hành trình truyền lửa yêu nước cho thế hệ trẻ hôm nay.
Ký ức tháng Tư của Đại tá Văn Minh Trường
Đại tá Văn Minh Trường, thôn Đại Thiện, xã Hàm Hiệp, huyện Hàm Thuận Bắc, đã 87 tuổi, 60 năm tuổi Đảng. Những ngày tháng Tư về, ông lại nhớ về những người đồng đội, những thủ trưởng cùng ông chiến đấu suốt gần 14 năm trên khắp các chiến hào chống Mỹ.
Ông nói: “Chiến công, thành tích này của Đảng, của Nhân dân và của rất nhiều người lính đã hy sinh, chấp nhận thương tật, khó khăn, gian khổ để làm nên ngày giải phóng, thống nhất Tổ quốc chứ nào của riêng ai”. Câu chuyện ông kể cứ thỉnh thoảng lại dừng. Những ký ức, những trận đánh, kỷ niệm về đồng chí, đồng đội, lấn chiếm cảm xúc của ông.
Trực tiếp cầm súng chiến đấu từ năm 1961 đến ngày giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc 30/4. Chiến đấu từ anh lính binh nhì đến khi là sĩ quan mang quân hàm Đại tá, Trung đoàn trưởng Trung đoàn bộ binh 812, đơn vị chủ lực, chiến lược của Quân khu 6 (cũ). Có thể nói đây là vinh dự, tự hào và cũng là trọng trách cực kỳ quan trọng trước Đảng, trước Nhân dân, trước máu xương của những người chiến sĩ cách mạng kiên trung. Ông vinh dự trực tiếp chỉ huy, chiến đấu giải phóng 4/6 tỉnh trực thuộc Quân khu 6 (gồm Bình Thuận, Bình Tuy, Lâm Đồng, Tuyên Đức). 2 tỉnh Quảng Đức và Ninh Thuận do quân chủ lực của Bộ, Quân khu 5 và lực lượng địa phương giải phóng.
Kết thúc đợt 1, tháng 12/1974, ta giải phóng hoàn toàn huyện Tánh Linh và một phần rộng lớn ở miền núi, làm cơ sở, tạo đà cho những cuộc tổng tiến công sau này. Đợt 2 và cũng là giai đoạn then chốt cho cuộc tiến công giải phóng hoàn toàn quê hương. Đêm 16/3/1975, các lực lượng của ta, nòng cốt là Trung đoàn bộ binh 812 do ông vừa được giao trọng trách từ Chỉ huy phó Tỉnh đội Bình Thuận qua làm Trung đoàn trưởng, cùng đoàn Đặc công 200C, Đại đội 88 tỉnh Bình Tuy chiến đấu suốt 7 ngày, đêm từ ngày 16 - 22/3/1975.
14 năm kháng chiến chống Mỹ, 5 lần bị thương nặng, 2 lần bị bom đặn của Mỹ đốt cháy toàn thân, chết đi sống lại. Và không biết bao nhiều lần bị đạn bom của quân thù tàn phá trên thân thể ông. Trong rất nhiều trận đánh, kể cả 45 ngày đêm chiến đấu Mậu Thân 1968, có ngày đánh 4 - 5 trận, ta và địch giằng co từng góc phố, con hẻm ở nội thành thị xã Phan Thiết. Trận nào cũng nhiều gian nan, ác liệt, có chiến thắng, có hi sinh. Hàng trăm trận đánh, vào sinh, ra tử, nhưng trận chiến đấu tiêu diệt Chi khu Võ Đắc là ác liệt nhất. Lúc ấy lực lượng của địch rất mạnh, vũ khí, đạn dược thì vô số kể. Xung quanh chi khu có 3 tiểu đoàn đóng thành thế tam giác. Trong chi khu công sự, lô cốt, hầm hào vững chắc, lực lượng mạnh, có pháo 105, pháo tầm ngắn, cối, hỏa lực bắn thẳng dày đặc, nhiều tầng, nhiều lớp. Các điểm cao xung quanh chi khu pháo binh địch với hỏa lực mạnh làm chủ cả một vùng rộng lớn, cùng với đó là các lực lượng địch xung quanh ở cự ly gần sẵn sàng tấn công chi viện cho chi khu.
Theo cách đánh “bóc vỏ” và bằng phương châm “vây, lấn, tấn, phá, triệt, diệt”. 23 giờ ngày 16/3/1975, Trung đoàn 812, Tiểu đoàn Đặc công 200C, Đại đội 88 tỉnh Bình Tuy nổ súng vây lấn chi khu. Hỏa lực địch ở các hướng, từ trong chi khu bắn như mưa vào đội hình của ta. Bộ đội ta đã có thương vong. Lúc này, các Tiểu đoàn 15, Tiểu đoàn 186 diệt phần lớn các đồn, bót xung quanh. Tiểu đoàn 840, Đại đội 88 cũng chặn và tiêu diệt phần lớn lực lượng chi viện của địch từ hướng Trà Tân và Võ Xu kéo về. Cuộc chiến đấu ngày càng ác liệt, rạng sáng ngày 20/3/1975 lực lượng đặc công 200C áp sát cửa mở Chi khu Võ Đắc. Dưới làn đạn, pháo đen đặc, hệ thống thông tin của ta bị tê liệt. Một quyết định sinh tử, ông cùng với đồng chí Chủ nhiệm Thông tin và đồng chí liên lạc, vượt ngoài công sự suốt 1,5 km dưới làn đạn pháo bắn cấp tập, mù trời của địch. Như là một sự kỳ diệu, đạn bom như thế mà không ai bị thương. Đến nơi, gặp được tôi anh em rất mừng. Tôi nhanh chóng củng cố hệ thống thông tin, tổ chức lực lượng, tăng cường chi viện, đến rạng sáng ngày 20/3 mũi đầu tiên của 200C, tiếp theo là Tiểu đoàn 840 mở cửa xung phong tiêu diệt, làm chủ chi khu Võ Đắc. Thừa thắng, các lực lượng ta phát triển, tiêu diệt các lực lượng của địch, giải phóng các xã lân cận. Đến chiều 22/3/1975, toàn huyện Hoài Đức (nay là huyện Đức Linh) không còn bóng địch.
Trong khí thế chiến trường miền Nam đang sôi động, nhận lệnh của Quân khu, tôi để lại Tiểu đoàn 15, tiếp quản và truy quét tàn quân. Ngày 25/3, Trung đoàn 812 tiến theo quốc lộ 20 lên giải phóng Di Linh, Bảo Lộc, Đà Lạt. Theo đà tiến công, đến chiều ngày 6/4/1975 trung đoàn quay về Hàm Thuận, phối hợp với các lực lượng để đêm ngày 7/4 cùng với Tiểu đoàn Đặc công 200C, Tiểu đoàn bộ binh 482 tỉnh Bình Thuận và Đại đội 3 huyện Hàm Thuận tiến công giải phóng Ma Lâm - Thiện Giáo, tạo đà và thời cơ áp sát, tiến đến giải phóng thị xã Phan Thiết (nay là TP. Phan Thiết).
Nhận lệnh của Miền, của Quân khu, suốt từ tháng 12/1974 đến ngày giải phóng, các đơn vị chủ lực của Quân khu 6, của tỉnh Bình Thuận. Gần 5 tháng, không 1 ngày ngơi nghỉ, các đơn vị phải liên tục tấn công địch, không cho địch có thời gian nghỉ ngơi, buộc địch co cụm trong đồn, bót, tạo điều kiện cho các đơn vị chủ lực Trung đoàn 812, Tiểu đoàn Đặc công 200C tấn công tiêu diệt các mục tiêu quan trọng của địch. Sau khi giải phóng Chi khu Ma Lâm - Thiện Giáo, Trung đoàn 812 triển khai Tiểu đoàn 15, Tiểu đoàn 840 và Đại đội 5 Đặc công Bình Thuận tấn công các đồn địch trên đường quốc lộ 1A, Sa Ra, Gộp, chiếm và quyết giữ cầu Phú Long để tạo điều kiện thuận lợi cho Quân đoàn 2 tiến công giải phóng các địa phương trên quốc lộ 1A và tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh.
Về địch, tuy lúc này các vùng ven thị xã đã bị quân ta tiêu diệt và làm chủ, tuy nhiên lực lượng trong thị xã còn rất đông và mạnh, có 8 tiểu đoàn, 18 đại đội, 13 trung đội, hệ thống công sự, hầm hào vững chắc, được trang bị máy bay, xe tăng, nhiều pháo và vô số súng đạn. Hơn nữa thị xã lại vừa tiếp nhận 1 lực lượng địch rất đông sau khi thất thủ Tây Nguyên chạy về được bổ sung vào đội hình chiến đấu. Quyết giữ cầu Phú Long, ròng rã 5 ngày đêm, từ ngày 14 - 18/4, không 1 phút ngơi nghỉ, Tiểu đoàn 15 và và Tiểu đoàn 840 thuộc Trung đoàn 812 hứng chịu hàng chục tấn bom, đạn pháo của địch từ đỉnh Tà Zôn, Lầu Ông Hoàng, Camp Esepic, hạm đội ngoài biển và hàng chục đợt tấn công của địch, nhưng các lực lượng của ta chiến đấu kiên trì, kiên quyết, anh dũng giữ vững cầu cho cánh quân duyên hải – Quân đoàn 2 hành quân bằng xe cơ giới được thuận lợi. Trưa ngày 18/4, sau khi hiệp đồng với Quân đoàn 2. Được sự chi viện của Quân đoàn 2 gồm Lữ đoàn Tăng, Trung đoàn bộ binh 18; Trung đoàn 812 (có 3 Tiểu đoàn bộ binh 15, 840 và Tiểu đoàn Pháo 130) và Tiểu đoàn bộ binh 482 tỉnh đội Bình Thuận chia thành 3 hướng đồng loạt tấn cống vào thị xã Phan Thiết từ hướng quốc lộ 1A ngay trong đêm 18/4. Trời tối đen, bộ đội ta không thông thuộc mục tiêu và đường cơ động trong thị xã Phan Thiết. Biết quân giải phóng vào giải phóng, nhiều người dân tình nguyện dẫn đường, chỉ các mục tiêu, kho tàng của địch. Các đơn vị chủ lực và địa phương vận động tiến công, tiêu diệt các toán địch, chiếm giữ toàn bộ tòa tỉnh trưởng, giải phóng 70 tù binh ở nhà tù Đinh Công Tráng, chiếm giữ kho bạc và các căn cứ quân sự, hậu cần, thu toàn bộ vũ khí và các phương tiện chiến tranh của địch.
Rạng sáng 19/4, trời không một chút mây, thỉnh thoảng có vài ngọn gió từ sông Cà Ty, từ biển Thương Chánh thổi vào mát rượi. Cớ gì nước mắt cứ tự nhiên trào ra, không cầm được. Suốt mấy chục năm chúng tôi chờ phút giây này. Vui lắm, mừng chảy nước mắt. Quê hương mình đã được giải phóng. Nhưng cũng chính vào lúc này chúng tôi lại nhớ về những người đồng chí, đồng đội mới vừa ngã xuống hy sinh ngay tại cửa ngõ vào thị xã và những trận đánh trước đó. Bao máu xương, công sức, hy sinh, mất mát của nhiều người dân, bộ đội, du kích để có ngày hòa bình, độc lập. Đại tá Văn Minh Trường giọng nói cứ nghẹn dần, hình ảnh ấy như vẫn vẹn nguyên.


