Bài viết

CỤ NGUYỄN VĂN TỨ – NGƯỜI CHIẾN SĨ CÁCH MẠNG ĐI QUA 2 CUỘC KHÁNG CHIẾN

Quảng Trị17/07/2026Ban Biên tập tổng hợp5 lượt xem0 lượt chia sẻ

CỤ NGUYỄN VĂN TỨ – NGƯỜI CHIẾN SĨ CÁCH MẠNG ĐI QUA 2 CUỘC KHÁNG CHIẾN 🇻🇳

Từ một cậu học trò nghèo ở Hà Tĩnh, Nguyễn Văn Tứ từng làm thầy giáo, phu xây dựng, người làm vườn, phụ bếp khách sạn rồi bị đưa vào lính hải quân dưới thời Pháp thuộc. Những bước ngoặt tưởng như rời rạc ấy cuối cùng lại đưa ông đến với cách mạng, tham gia giành chính quyền ở Sài Gòn - Chợ Lớn năm 1945 và dành phần lớn cuộc đời phục vụ đất nước.Nguyễn Văn Tứ sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo tại làng Khổng Yên, xã Nghĩa Yên cũ, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Gia đình có 4 anh chị em nhưng vì hoàn cảnh khó khăn, chỉ mình ông được đi học. Năm 1937, sau khi học hết bậc tiểu học, ông phải nghỉ. Quê hương Khổng Yên khi ấy đã sớm có nhiều đảng viên và trí thức yêu nước tham gia vận động nhân dân. Thanh niên trong làng được tổ chức sinh hoạt thể thao, văn nghệ, biểu diễn ca kịch để tuyên truyền và gây dựng phong trào. Nguyễn Văn Tứ là một trong những người trẻ hoạt động tích cực trong môi trường ấy.Năm 1939, ông cùng thanh niên địa phương vận động bà con xây dựng Trường tiểu học thôn Khổng Yên và trở thành một trong những giáo viên đầu tiên của trường. Lớp học không chỉ dạy chữ mà còn hướng học sinh đến tinh thần yêu quê hương, thương dân. Sau 2 năm đứng lớp, hoàn cảnh gia đình quá khó khăn buộc ông phải rời quê vào Đà Lạt tìm việc làm.Tại Đà Lạt, Nguyễn Văn Tứ sống trong “Nhà hội” của Hội Nghĩa Yên tương tế, nơi giúp những người đồng hương mới vào có chỗ tá túc và tìm kế sinh nhai. Ban ngày ông đi đào đất, đổ đá, đắp nền; tối đến lại dạy chữ Quốc ngữ miễn phí cho những người chưa biết đọc, biết viết. Chỉ sau vài tháng, nhiều người đã có thể tự đọc, tự viết và viết thư gửi về quê. Trong số những người từng được học chữ tại đây, theo bài viết về cụ Nguyễn Văn Tứ, có người sau này trở thành cán bộ của Đảng.Khoảng 5 tháng sau khi vào Đà Lạt, ông được giới thiệu làm vườn cho một khách sạn lớn. Nhờ tính chăm chỉ và tháo vát, ông được chuyển vào phụ bếp, làm từ việc sơ chế thực phẩm, lau rửa dụng cụ đến dọn dẹp. Thấy ông làm việc sạch sẽ, chu đáo, đầu bếp còn giao pha cà phê phục vụ khách. Cũng trong thời gian ở Đà Lạt, Nguyễn Văn Tứ tham gia Hội Ái hữu Nghệ Tĩnh và tiếp tục gần gũi với những người đồng hương có tư tưởng yêu nước.Một sự việc bất ngờ đã khiến cuộc sống của ông thay đổi. Vì cho nhân viên người Việt uống cà phê trong khi khách sạn cấm việc này, Nguyễn Văn Tứ bị phát hiện, đánh đập và đuổi việc. Không còn kế sinh nhai, ông xuống Nha Trang tìm việc nhưng bị phía Pháp bắt đi lính hải quân rồi đưa vào Sài Gòn huấn luyện. Tại đây, ông gặp nhiều người quê Nghệ Tĩnh, được tiếp xúc sâu hơn với tư tưởng cách mạng và hiểu rõ hơn bản chất của chế độ thuộc địa.Sau thời gian huấn luyện, Nguyễn Văn Tứ bị đưa xuống một tàu tuần tra hoạt động dọc vùng biển, kênh rạch Nam Bộ và có lúc lên cả Biển Hồ Campuchia. Công việc hằng ngày của ông là chùi boong, gõ rỉ, sơn vỏ tàu, quay neo và thả neo. Dù lính Pháp và lính người Việt cùng ở trên tàu, sự phân biệt và cách đối xử khắc nghiệt khiến ông càng nhận rõ thân phận của người dân mất nước.Ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp tại Đông Dương. Quân Nhật bắt giam cả lính Pháp và lính người Việt để đưa đi lao động. Lợi dụng lúc việc canh giữ sơ hở, Nguyễn Văn Tứ trốn khỏi nơi giam giữ và tìm về khu vực Hòa Hưng, Sài Gòn - Chợ Lớn. Tại đây, ông gặp những người đồng hương đã giác ngộ cách mạng, được giới thiệu tham gia Việt Minh và gia nhập lực lượng Thanh niên Tiền phong. Từ đó, ông cùng các đồng chí tuyên truyền chủ trương của Việt Minh, tham gia đấu tranh chính trị và chuẩn bị lực lượng cho cuộc Tổng khởi nghĩa.Ngày 25/8/1945, Nguyễn Văn Tứ cùng lực lượng Thanh niên Tiền phong hòa vào dòng người Sài Gòn - Chợ Lớn xuống đường giành chính quyền. Đến ngày 2/9/1945, ông tiếp tục tham gia bảo vệ cuộc mít tinh và đoàn người tuần hành tại Sài Gòn. Nhưng niềm vui độc lập chưa kéo dài bao lâu thì ngày 23/9/1945, Nam Bộ bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trở lại.Nguyễn Văn Tứ trực tiếp tham gia chiến đấu tại Cầu Kiệu, Chùa Bà Đàm và Bà Chiểu, sau đó rút về Biên Hòa, tham gia huấn luyện du kích tại Trại Vĩnh Cửu. Cuối năm 1945, vì hoàn cảnh gia đình khó khăn, ông trở ra Bắc và trở về quê Hà Tĩnh. Tại quê nhà, ông kết hôn với bà Nghiêm Thị Châu, tiếp tục tham gia huấn luyện dân quân du kích và làm Trưởng ban Bình dân học vụ. Đầu năm 1948, Nguyễn Văn Tứ được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương; một năm sau, người vợ của ông cũng được đứng trong hàng ngũ của Đảng.Cuối năm 1950, ông được Huyện ủy Đức Thọ điều động bổ sung cán bộ cho Tỉnh Hội Nông dân Cứu quốc Hà Tĩnh. Tháng 2/1952, ông chuyển sang công tác tại Sở Mậu dịch tỉnh Hà Tĩnh. Đầu năm 1955, ông được điều ra Nghệ An tham gia xây dựng Công ty Xuất nhập khẩu Bến Thủy và tiếp tục công tác trong ngành mậu dịch.Những năm chiến tranh phá hoại của Mỹ, Nghệ Tĩnh trở thành một trong những địa bàn bị đánh phá ác liệt. Gia đình Nguyễn Văn Tứ chịu tổn thất nặng nề một người con trai mất, vợ ông bị thương, nhà cửa bị b.omm phá hủy. Dù vậy, ông vẫn tiếp tục công tác và hoàn thành nhiệm vụ được giao.Năm 1980, Nguyễn Văn Tứ nghỉ hưu. Ông và người bạn đời đã dành nhiều năm phục vụ đất nước qua 2 cuộc kháng chiến. Theo tư liệu công bố năm 2022, cụ được tặng Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng Ba, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất và được ghi nhận là cán bộ tiền khởi nghĩa. Khi ấy, ở tuổi 102 và với 74 năm tuổi Đảng, cụ vẫn minh mẫn, duy trì thói quen đọc và ghi chép những sự kiện trong nước, thế giới; trong khoảng 25 năm, cụ đã ghi gần 50 tập tư liệu để lại cho con cháu.Cuộc đời Nguyễn Văn Tứ trải qua nhiều công việc và nhiều vùng đất, từ lớp học nhỏ ở Khổng Yên đến Đà Lạt, Nha Trang, Sài Gòn - Chợ Lớn rồi trở lại Hà Tĩnh, Nghệ An. Nhưng dù là người thầy dạy chữ, người lao động làm thuê hay một cán bộ cách mạng, ông vẫn giữ một cách sống giản dị làm việc, học hỏi và phục vụ những người xung quanh. Đó cũng là lý do ở tuổi ngoài 100, câu chuyện về cụ Nguyễn Văn Tứ vẫn được nhắc lại như chân dung của một người cán bộ cách mạng đã dành gần trọn cuộc đời cho đất nước.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn