Cụ Nguyễn Văn Viễn - Người lái tàu duy nhất năm xưa tại sở hỏa Đà Lạt

Khu tập thể hỏa xa do người Pháp xây dựng cách đây một thế kỷ tại đường Quang Trung, phường 9, thành phố Đà Lạt vẫn còn một người lái tàu duy nhất trên tuyến đường sắt Đà Lạt - Tháp Chàm từ thời Pháp thuộc. Đó là cụ Nguyễn Văn Viễn, sinh năm 1922, làm việc tại Sở hỏa xa Đà Lạt từ năm 1947.
“Tôi sinh tại làng Quý Lý, xã Hải Ninh, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Năm 20 tuổi, đi làm phu trà tại Sở trà Cầu Đất (Đà Lạt), đây là nhà máy chè đầu tiên do người Pháp lập tại Đông Dương. Khi Nhật vào xâm lược nước ta, Sở trà Cầu Đất đóng cửa, tôi lên Đà Lạt đi làm bồi cho người Pháp, ngày 1.4.1947, tôi được một sĩ quan Pháp giới thiệu vào làm tại Sở hỏa xa Đà Lạt”, cụ Viễn nhớ lại.

Cụ Viễn đang giải thích tài liệu về các chặng đường sắt răng cưa. Ảnh: TLTN
Khi mới vào làm, cụ Viễn cũng chỉ được giao vài việc lặt vặt như đốt lò, dọn vệ sinh, soát vé trên tàu. Đến năm 1953, mới chính thức trở thành phụ lái rồi lái chính. Ngày ấy, mỗi đầu máy hơi nước thường có 1 lái tàu, 2 nhân viên phụ trách tiếp nước, đốt than. Là người kỹ tính nên cụ Viễn thường xuyên có cuốn sổ ghi chép lại nhật ký công việc thường ngày.
Chỉ vào những trang giấy cũ nhàu, cụ Viễn giải thích: “Quãng đường từ Phan Rang lên Krông Pha khá bằng phẳng nên chạy bằng đầu máy loại thường, mỗi đầu có thể kéo 20 toa. Tuy nhiên khi tới Krông Pha thì phải thay bằng đầu máy vượt đèo, lúc này mỗi đầu máy chỉ kéo được tối đa khoảng 65 tấn, tương đương 4 toa. Thời gian trung bình đi từ ga Tháp Chàm Lên Đà Lạt mất khoảng 3 tiếng rưỡi”.
Để vượt đèo, mỗi đầu máy có lắp hệ thống bánh răng, khi lên đèo, lái tàu sẽ điều khiển cho hệ thống này “ngoạm” chặt vào đường răng cưa nằm giữa 2 đường ray để leo lên dốc. Nếu như ở đường bằng, tàu có thể chạy với tốc độ 35km/h thì ở những đoạn răng cưa, tàu chỉ đạt khoảng 5-10km/h. Đây cũng là những giây phút căng thẳng nhất đối với những lái tàu bởi chỉ cần sơ sểnh một chút cả đoàn tàu sẽ bị tuột hoặc lật về phía sau.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.

Tàu chạy qua cầu D'ran, huyện Đơn Dương. Ảnh tư liệu
Năm 1969, do tình trạng chiến tranh ác liệt, tuyến đường sắt Tháp Chàm - Đà Lạt ngừng hoạt động. Cụ Viễn chuyển xuống lái tàu lửa tuyến Tháp Chàm - Sài Gòn. Năm 1975, cụ Viễn được chính quyền cách mạng tuyển dụng, tiếp tục phục vụ trong ngành đường sắt, cụ cũng là một trong những người lái 6 chiếc đầu máy hơi nước về ga Đà Lạt để chuẩn bị khởi động lại tuyến đường sắt Đà Lạt - Tháp Chàm. Tuy nhiên, lúc này do yêu cầu phải thông tuyến đường sắt Bắc Nam nên ngành đường sắt chủ trương tháo dỡ toàn bộ vật tư tại các tuyến đường xương cá, trong đó có tuyến Tháp Chàm - Đà Lạt để phục vụ cho việc khôi phục đường sắt Thống Nhất.
“Ngày ấy nếu có khôi phục lại tuyến Tháp Chàm - Đà Lạt thì hiệu quả kinh tế sẽ không đạt vì toàn bộ máy móc sau một thời gian dài dầm mưa dãi nắng đã quá cũ, xuống cấp nghiêm trọng, nếu sử dụng có thể xảy ra tai nạn. Vì vậy ngành đường sắt chỉ khôi phục khoảng 7km từ Đà Lạt đi Trại Mát để phục vụ khách du lịch”, cụ Viễn cho biết.
Từ một tuyến đường mang vẻ đẹp độc đáo, tuyến giao thông sầm uất, đóng góp quan trọng đối với phát triển của Đà Lạt, đường sắt Tháp Chàm - Đà Lạt dần bị lãng quên. Những chiếc đầu máy hơi nước cổ bị ngành đường sắt bán cho một công ty đường sắt Thụy Sĩ, công ty này đã mang về Thụy Sĩ, phục chế lại và chạy trên tuyến đường sắt răng cưa Furka (Thụy Sĩ) phục vụ du lịch. Nhiều đoạn đường ray, cầu sắt trên tuyến đường cũng bị phá dỡ. Thế hệ những người lái tàu như cụ Viễn giờ đây hầu hết đã thành người thiên cổ. Tuy nhiên, ký ức và dấu vết của tuyến đường thì vẫn còn đó



