Cụ Phạm Trung Hải cùng câu chuyện tình hơn nửa thế kỷ nảy nở giữa rừng già, trở thành minh chứng sống động cho sức mạnh tình yêu và sự gắn kết bền chặt giữa các dân tộc.
Cụ Phạm Trung Hải cùng câu chuyện tình hơn nửa thế kỷ nảy nở giữa rừng già, trở thành minh chứng sống động cho sức mạnh tình yêu và sự gắn kết bền chặt giữa các dân tộc.
Năm 1967, khi chiến trường miền Nam bước vào giai đoạn chiến đấu ác liệt,
chàng trai Hoàng Công Ngự, quê ở Nam Định, khi đó tròn 19 tuổi đã xung phong
lên đường nhập ngũ. Cùng với tuổi trẻ cả nước thời ấy, thanh niên Hoàng Công
Ngự đã hướng về miền Nam với tinh thần "quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh".
Ông Hoàng Công Ngự, nay sinh sống tại huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu
nhớ lại: "Chúng tôi hành quân đi bộ rất vất vả. Đơn vị tôi đi 8 tháng trời từ Hòa
Bình mới đến mũi Cà Mau, quá trình đi vừa chiến đấu vừa học tập. Lúc ấy toàn thể
anh em đều hừng hực khí thế, trong lòng chỉ có một niềm tin đất nước phải độc lập,
Bắc - Nam phải sum họp một nhà."
Là chiến sĩ của Đại đội thông tin, thuộc Trung đoàn 10, ông Ngự được giao
nhiệm vụ đảm bảo thông tin liên lạc giữa các mũi tiến công trên chiến trường ác
liệt Tây Nam Bộ và Campuchia.
Năm 1969, sau khi nghe tin Bác Hồ mất, dù cả Đại đội đều rất buồn và đeo
băng tang trên ngực để tưởng nhớ Người, nhưng ai nấy cũng đều quyết tâm cho
trận đánh phía trước. Đơn vị ông có người đã hy sinh khi chưa kịp gọi điện về quê
lần nào; có người thì vĩnh viễn nằm lại trong rừng già, mỗi lần nhắc đến, ông lại
nghèn nghẹn.
Ông Ngự cho biết, trận chiến đầu tiên ông tham gia là đánh đồn bốt ở biên
giới Campuchia. Trận đánh đó rất ác liệt, trên bom, dưới đạn, 3 đồng đội của ông là
đại đội trưởng và 2 chiến sĩ đã hy sinh; riêng ông bị thương nặng. Đến khi được
đồng đội tìm thấy, đưa về đơn vị ông mới biết mình còn sống. Khi đang tham gia
chiến dịch Hồ Chí Minh và đang ở Cần Thơ, ông và đồng đội mừng rỡ khi hay tin
chiến thắng.
Ông Ngự cho biết: "Đúng 11h30 trưa ngày 30/4/1975, tôi nghe thấy đồng
đội la lên là Dương Văn Minh đã đầu hàng rồi thì anh em ai cũng vỗ tay và hô lên
giải phóng rồi, giải phóng rồi. Người dân ở thành phố Cần Thơ tràn ra đường, từ
già đến trẻ, ai cũng phấn khởi nhảy lên múa và vỗ tay vui mừng. Chúng tôi ai nấy
đều rất phấn khởi, vỗ tay hô lên là hòa bình rồi, hòa bình rồi".
Không riêng những người lính trực tiếp tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh,
mỗi người dân sống ở Lai Châu - Tây Bắc ngày đó, dù là cán bộ hậu phương tham
gia công tác, hay chỉ sản xuất ở địa phương, ký ức hào hùng của ngày giải
phóng, đất nước thống nhất mãi còn nguyên, như mới ngày hôm qua.
Ông Phạm Ngọc Toan đang sinh sống ở thành phố Lai Châu, tỉnh biên giới
Lai Châu xúc động nhớ lại: "Khi tôi đang làm việc ở Bệnh viện huyện Tuần Giáo
(Lai Châu cũ), hôm đó đúng vào ngày thứ 4 thì nghe tin Đài TNVN báo tin quân
giải phóng đã giải phóng hoàn toàn miền Nam. Cả Bệnh viện Tuần giáo, trong đó
có nhiều bệnh nhân ùa ra gần loa phát thanh của bệnh viện để nghe. Ai nấy đều rất
phấn khởi và vui quá, không ngờ mình lại giải phóng miền Nam nhanh thế".
Bà Lý Thị Lả cũng ở Lai Châu thì nói: "Ngày đó cô đang làm giáo viên dạy
ở trên trường Dào San. Cô và chú đang yêu nhau chuẩn bị cưới rồi, nhưng đất nước
đang tổng động viên, thế là cô chú phải xa nhau. Ngày 30/4/1975, nghe tin giải
phóng miền Nam thống nhất đất nước, lúc ấy cảm xúc của cô rất là phấn khởi, biết
rằng người thương của mình vẫn còn sống. Thời khắc ấy thật sự là khó tả, chỉ biết
là rất vui và trái tim mình và người thương đều đang hướng về nhau".
Chiến thắng 30/4/1975 không chỉ là bản anh hùng ca vang vọng khắp non
sông, mà còn là ký ức thiêng liêng được cất giữ trong trái tim mỗi người con đất
Việt, từ miền xuôi đến miền ngược, từ nơi tuyến lửa đến rẻo cao biên cương. Với
cựu chiến binh và đồng bào các dân tộc ở Lai Châu, đó là niềm tự hào, là minh
chứng cho tinh thần quật cường, đoàn kết và khát vọng hòa bình của cả dân tộc.
Trên mảnh đất Lai Châu đổi mới hôm nay, ký ức về ngày giải phóng, thống
nhất đất nước không chỉ được nhắc nhớ, mà còn trở thành động lực để các thế hệ
viết tiếp trang sử vàng, xây dựng quê hương giàu đẹp, giữ gìn biên cương vững
chắc, xứng đáng với những hy sinh của cha ông năm xưa.
Cre: https://doanthanhnien.vn/tin-tuc/cong-tac-tuyen-truyen-giao-duc/cau-chuyen-
thoi-hoa-lua---ky-uc-ngay-giai-phong-trong-trai-tim-cuu-chien-binh-va-dong-bao-
lai-chau
Bài 2:
Lịch sử thế giới đã in đậm hình ảnh của biết bao cuộc chiến tranh, cuộc
chiến tranh nào cũng tàn khốc và không gì có thể bù đắp nổi. Câu chuyện các cựu
chiến binh Việt Nam không chỉ là những ký ức về chiến tranh mà còn là những tấm
gương về tinh thần yêu nước, sự hy sinh và phẩm chất cao đẹp trong thời bình. Họ
là những người đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ
Tổ quốc và tiếp tục phát huy tinh thần đó trong các hoạt động cộng đồng và xã hội,
như câu chuyện của cụ Phạm Trung Hải - 96 tuổi, ở xã Đăk Ui, tỉnh Quảng Ngãi,
trước đây thuộc H.Đăk Hà, Kon Tum.
Ngôi nhà nhỏ của cụ Hải nép mình dưới vườn cà phê xanh mướt. Vách gỗ cũ
kỹ, mái nhà đơn sơ nhưng lúc nào cũng ấm áp bởi những buổi đoàn viên, những
lần thanh niên địa phương ghé thăm, tri ân gia đình người có công với cách mạng.
Gần 100 tuổi, cụ Hải vẫn minh mẫn dù đôi chân yếu phải chống gậy mỗi khi
bước đi. Mái tóc bạc trắng, nụ cười hiền cùng đôi mắt sáng ngời trên gương mặt
hằn vết thời gian khiến bất cứ ai gặp cụ cũng thấy gần gũi, thân thương.
Giọng cụ chậm rãi, đôi lúc ngắt quãng, kể lại câu chuyện cuộc đời làm người nghe
rưng rưng. Sinh ra trong một gia đình nghèo ở xã Bình Sơn (Quảng Ngãi), tuổi thơ
cụ gắn với những tháng ngày đi ở đợ cho địa chủ. Bữa cơm thừa canh cặn, những
trận đòn roi khiến cậu bé Phạm Trung Hải gầy gò, ốm yếu.
Cũng trong những ngày chăn trâu cắt cỏ ấy, cậu gặp được những người lính
bộ đội Cụ Hồ. Họ ân cần hỏi han, kể chuyện cách mạng, gieo vào tâm hồn non nớt
niềm tin về ngày mai tươi sáng. Năm 1945, lúc mới 16 tuổi, chàng trai trẻ Phạm
Trung Hải xin gia nhập đội quân khởi nghĩa. Do sức khỏe yếu, chưa đủ tuổi, tổ
chức khuyên cậu tạm trở về. Không nản chí, 3 năm sau, chàng trai trở lại và lần
này được chấp nhận trở thành du kích xã.
Một năm sau, cụ Hải nhập ngũ, biên chế vào Tiểu đoàn 19, Trung đoàn 108,
Liên khu 5. Từ đó, cụ lăn lộn khắp chiến trường Liên khu 5, từ đồng bằng ven biển
Nam Trung bộ đến núi rừng Tây nguyên, đặc biệt là vùng Gia Lai - Kon Tum và
miền tây Quảng Ngãi. Năm 1950, cụ vinh dự được đứng vào hàng ngũ của Đảng.
Sau Hiệp định Genève 1954, cụ Hải tập kết ra Bắc học tập, rồi năm 1960 trở
lại chiến trường
Kon Tum tiếp tục chiến đấu. Đến năm 1970, cụ giữ chức Huyện đội trưởng
H.40 (vùng tây bắc tỉnh Kon Tum cũ). Trong những năm tháng ác liệt ấy, đơn vị
thường trú quân trong rừng già, sống nhờ sự chở che của đồng bào. Và cũng nơi
núi rừng ấy, cụ gặp định mệnh đời mình. Nhắc đến mối tình năm xưa, ánh mắt cụ
Hải sáng lên, nụ cười rạng rỡ như ký ức vẫn còn vẹn nguyên. Người chủ động
trong chuyện tình này không phải người lính dạn dày trận mạc mà là cô sơn nữ Y
Nảy (năm nay 78 tuổi). Sinh ra trong gia đình đồng bào Gié Triêng ở H.40, từ nhỏ
Y Nảy đã có thiện cảm với những người lính cụ Hồ. Năm 1962, cô tham gia thanh
niên xung phong; đến năm 1967 thì nhập ngũ, công tác tại Quân khu 6. Ba năm
sau, cô được điều về Huyện đội H.40, làm trung đội trưởng dưới quyền chỉ huy của
cụ Hải. Khi ấy, cô mới 23 tuổi, kém ông 18 tuổi. Trong thời gian công tác, cô gái
miền sơn cước thầm ngưỡng mộ người chỉ huy cương trực, quyết đoán. Tình cảm
ngày một lớn dần, thôi thúc Y Nảy phải nói ra. Một buổi chiều vắng, cô mạnh dạn
hỏi: "Anh Hải có muốn xây dựng hạnh phúc với em không?".
Câu hỏi khiến người lính 41 tuổi sững sờ. Bao năm vào sinh ra tử, ông chưa
từng nghĩ đến chuyện gia đình. Lúng túng, ông tìm cớ thoái thác: "Tôi đã có vợ, có
con ở quê rồi". Nhưng Y Nảy không lùi bước. Cô nhìn thẳng vào mắt ông: "Anh
chưa có vợ, chưa có con, đừng dối em. Em muốn làm vợ anh Hải". Ngạc nhiên
hơn, ông nhận ra cô gái đã âm thầm tìm hiểu, thuộc lòng cả tiểu sử, gia cảnh của
mình. Đồng đội, vốn quý mến cả hai, cũng nhiệt tình vun vén. Ban đầu, ông lo ngại
khoảng cách tuổi tác, rồi sự khác biệt ngôn ngữ, phong tục. Hơn nữa, chiến tranh
khốc liệt, lấy đâu ra bình yên để tính chuyện hôn nhân? Nhưng sự chân thành, kiên
định của Y Nảy đã chạm đến trái tim người lính. Đám cưới giản dị diễn ra giữa
rừng già, trong tiếng bom rền, pháo dội, có đồng đội làm chứng và chúc phúc. Năm
1970, chàng trai quê Bình Sơn và cô gái Gié Triêng chính thức nên duyên. Họ vừa
chiến đấu, vừa học cách dung hòa văn hóa, tập quán của nhau. Chính trong khói
lửa, tình yêu càng thêm sắt son. Ngày đất nước hòa bình, vợ chồng cụ Hải nhận
nhiều huân, huy chương. Đó không chỉ là niềm tự hào, mà còn là sự ghi nhận đóng
góp máu xương của họ trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc.
Trước khi đưa vợ về quê, cụ Hải nhiều đêm trăn trở làm sao thưa chuyện với
cha mẹ, họ hàng về người bạn đời đặc biệt. Khi ấy, rào cản ngôn ngữ, phong tục
giữa hai dân tộc còn lớn. Và đúng như dự đoán, gia đình phản đối. Nhưng rồi, bằng
sự khéo léo, đảm đang và chân thành, Y Nảy dần chiếm được cảm tình của mọi
người. Người con dâu núi rừng, giỏi việc nước, chu toàn việc nhà, đã khiến gia
đình chồng mở lòng. Ở quê một thời gian, cụ Hải đưa vợ con trở lại Kon Tum tiếp
tục công tác. Năm 1980, vợ chồng cụ về hưu, gom góp tiền lương mua rẫy cà phê ở
xã Đăk Ui để nuôi con cái ăn học.
Hơn nửa thế kỷ qua, tình cảm của hai người vẫn nguyên vẹn. Họ nuôi dạy 4
người con trưởng thành, học hành giỏi giang, nay đều có công việc ổn định, có
người là cán bộ địa phương. Ở tuổi gần đất xa trời, họ sống cùng con cháu trong
ngôi nhà nhỏ bình yên như mong ước thuở nào. Cụ Hải nắm tay vợ, nở nụ cười
hiền: "Nếu không có cái duyên nơi rừng núi năm ấy, chắc tôi đã không có hạnh
phúc như bây giờ". Còn bà Y Nảy khẳng định: "Nếu được quay lại thời gian khó
ấy, tôi vẫn quyết tâm theo đuổi thủ trưởng Hải. Mình yêu thương ai thì phải nói ra.
Hạnh phúc là do mình nắm giữ, nếu không chủ động thì sẽ tiếc nuối cả đời".
Chuyện tình của người lính quê Quảng Ngãi và cô sơn nữ Gié Triêng năm nào
không chỉ là ký ức đẹp của một thời hoa lửa, mà còn là minh chứng cho sức mạnh
tình yêu, tình đoàn kết bền chặt giữa các dân tộc. Bom đạn có thể cướp đi tất cả,
nhưng không thể dập tắt tình người, càng không thể ngăn trái tim tìm về nhau.
Ông Phạm Văn Lập, Chủ tịch UBND xã Đăk Ui, cho biết vợ chồng cụ Hải -
Y Nảy là gia đình người có công tiêu biểu. Không chỉ là cán bộ cách mạng kỳ cựu,
khi về hưu, họ còn là gia đình văn hóa mẫu mực, nuôi dạy con cháu thành người,
trở thành những công dân, cán bộ gương mẫu. "Hằng năm, kế thừa truyền thống
uống nước nhớ nguồn, địa phương luôn tổ chức thăm hỏi, tặng quà gia đình cụ Hải
nhân dịp lễ lớn. Đó là sự tri ân sâu sắc với thế hệ cha anh đã cống hiến xương máu
cho độc lập, tự do của Tổ quốc, cho hạnh phúc của nhân dân", ông Lập nói.
Cụ Phạm Trung Hải cùng câu chuyện tình hơn nửa thế kỷ nảy nở giữa rừng già, trở
thành minh chứng sống động cho sức mạnh tình yêu và sự gắn kết bền chặt giữa
các dân tộc.
Nguồn: Báo Thanh Niên – thanhnien.vn



