Cụ Phòng “tiền khởi nghĩa”
Một buổi sáng đầu thu, chúng tôi đến thị trấn Thắng, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang tìm thăm cụ Trần Thị Phòng thì được bà con bán hàng ở cổng chợ Châu, phố Thắng chỉ dẫn: Đi qua cửa hàng vật liệu xây dựng Hòa Oanh độ non trăm mét, thấy bà cụ ngồi nhặt rau ở cổng nhà bên phải đường, gặp ai cũng xởi lởi hỏi chuyện. Đấy là cụ Phòng “cây cao bóng cả”.

Cụ Phòng 96 tuổi mà “phong độ” kỳ lạ. Da dẻ hồng hào, đôi mắt sáng. Hàm răng đen hạt huyền còn nguyên vẹn. Cụ nói sang sảng, giàu ngữ điệu. Cụ mời chúng tôi vào nhà, với đủ thứ chuyện. Mở đầu là: “Ông Nguyễn Thế Vinh-chồng tôi cũng “tiền khởi nghĩa”. Chúng tôi có 6 con, “tam nam, tam nữ”. Thế mà chẳng thấy “bất phú”, cũng chẳng “hữu bần”!-Cụ cười vui rồi lại bắt ngay sang các chuyện khác mà không cần biết chúng tôi đến tìm cụ có việc gì.
Cụ Phòng là con gái cả của vợ chồng cụ Trần Đức Khai-Trưởng bạ xã Cảnh Thụy (Yên Dũng, Bắc Giang) thời Pháp thuộc. Cụ học ở trường huyện đến hết bậc tiểu học. Nhờ có tinh thần yêu nước, tư chất thông minh, lại có khiếu truyền thông, dân vận nên ngay từ đầu năm 1945, cụ được Đảng ta tin dùng, giao làm Bí thư Phụ nữ huyện Yên Dũng. Cụ kể: “Nhiệm vụ của tôi bấy giờ là chủ trì, cùng ban chấp hành vận động các tầng lớp phụ nữ trong huyện hưởng ứng chủ trương của Đảng, gia nhập Mặt trận Việt Minh và các đoàn thể cứu quốc đánh Pháp, đuổi Nhật; xây dựng, bảo vệ cơ sở của ta. Trong thời gian ấy, tôi mở lớp dạy học, giúp phụ nữ ở địa phương biết chữ, hiểu biết được tình hình xã hội trên quê hương để nhận thức, tiếp thu về cách mạng nhanh chóng và đúng đắn. Đêm 20-7-1945, các đội tự vệ xã Song Khê, xã Cảnh Thụy bao vây huyện lỵ Yên Dũng, bắt tri phủ huyện cùng binh lính nộp vũ khí, sổ sách, bằng triện... Chúng tôi huy động hội viên phụ nữ huyện xung phong cùng quần chúng tuần hành thị uy chào mừng chính quyền mới, kiên quyết bảo vệ thành quả cách mạng, tạo điều kiện thuận lợi cho khởi nghĩa giành chính quyền trong toàn tỉnh Bắc Giang”.
Trước năm 1945, cụ đã lấy chồng. Nhưng khi tham gia công tác thì thấy hoàn cảnh riêng của hai người không thuận lợi, lại cũng chưa có con nên các cụ thuận tình chia tay. Sau ngày nước nhà độc lập, khi tham gia phong trào xóa mù chữ, cụ gặp một cán bộ Việt Minh huyện Hiệp Hòa, tên là Nguyễn Thế Vinh, cũng sinh năm 1924 như cụ, quê Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu, Nghệ An. Đám cưới đời sống mới chỉ có nước chè xanh, kẹo “con cá” nhưng tình yêu thương chồng vợ cùng chung lý tưởng cách mạng khiến cụ thêm hăng say công tác.
Năm 1947, địch càn quét, tàn phá quê hương Cảnh Thụy. Chồng hoạt động xa nhà, con còn quá nhỏ, theo yêu cầu nhiệm vụ, cụ bàn giao công tác, đưa người con trai đầu lòng là Nguyễn Văn Quỳnh 5 tháng tuổi rời đất Yên Dũng về xã Thanh Vân, huyện Hiệp Hòa tá túc. Sau khi các con của hai cụ lần lượt ra đời, cụ quyết định ở nhà cày cấy, nuôi dạy con để chồng “sải cánh chim bằng” làm nhiệm vụ Đảng giao.
Tháng 4-1973, gia đình nhận giấy báo tử ông Nguyễn Văn Hòa-con trai thứ của cụ hy sinh ở chiến trường B. Buồn lòng lắm nhưng cụ vẫn vững vàng bảo các con: “Đau thương, tổn thất này không gì có thể bù đắp được. Nhưng nhà ta phải nén đau trong lòng. Cả dân tộc đang đấu tranh chống giặc, không phải riêng nhà mình mất mát...”. Cụ dạy con cháu phải yêu lao động, thương người, không được làm điều xấu xa. Công tác thì không thể “mười phân vẹn mười”, nhưng phải chú ý tránh khuyết điểm. Mắc lỗi rồi thì quyết sửa và không tái diễn. Bởi vậy, con cháu của cụ đều là công dân tốt, nhiều người giữ trọng trách trong hệ thống chính trị của Đảng, Nhà nước. Lâu lâu, cụ Phòng lại bảo các cháu chở đi thăm những người hoạt động cách mạng cùng thời với cụ đang còn sống. Cụ vẫn dùng tiền tiết kiệm của mình để mua quà cho họ...


