Bài viết

Cuộc chia ly màu đỏ của người lính trở lại chiến trường

Nguyễn Mỹ là một nhà thơ, nhà báo, người lính quê Phú Yên. Ông tập kết ra Bắc năm 1954 rồi tự nguyện trở lại chiến trường miền Nam năm 1968. Ông để lại không nhiều tác phẩm, nhưng bài thơ “Cuộc chia ly màu đỏ” đã trở thành một trong những bài thơ tình hay nhất thời chống Mỹ. Ông hy sinh năm 1971 khi đang làm nhiệm vụ ở Quảng Nam.

Quảng Trị22/10/2026Đoàn phường Tân Thuận (Phường Tân Thuận)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Có những người đi qua chiến tranh không để lại nhiều trang viết, nhưng chỉ một bài thơ cũng đủ để cả dân tộc nhớ tên. Nhà thơ, nhà báo, liệt sĩ Nguyễn Mỹ là một người như thế. Cuộc đời ông ngắn ngủi, chỉ hơn ba mươi năm, nhưng đó là cuộc đời của một người lính hai lần ra trận, một người cầm bút biết biến nỗi đau chia ly thành sức mạnh. Câu chuyện của ông là câu chuyện về một thế hệ biết sống xa nhau khi Tổ quốc cần.

Nguyễn Mỹ sinh năm 1935 trong một gia đình ở thôn Trung Lương, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên. Khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đang diễn ra, ông mới mười sáu tuổi đã xung phong vào bộ đội và chiến đấu trên chiến trường Nam Trung Bộ. Năm 1954, sau Hiệp định Genève, như bao cán bộ, chiến sĩ miền Nam, ông tập kết ra Bắc, mang theo lời hẹn một ngày đất nước thống nhất sẽ trở về quê hương.

Ở miền Bắc, người lính trẻ làm công tác văn nghệ ở Đoàn Văn công Tây Nguyên, nơi người anh ruột của ông, nhạc sĩ Nhật Lai, cũng công tác. Sau đó ông học lớp báo chí của Trường Tuyên huấn Trung ương rồi làm biên tập viên ở Nhà xuất bản Phổ thông. Từ năm 1957, ông bắt đầu có thơ đăng trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Những năm tháng ấy, miền Bắc vừa xây dựng, vừa dốc sức chi viện cho miền Nam, và những cuộc tiễn đưa người ra trận diễn ra hằng ngày ở sân ga, ở đầu làng, ở những khu vườn nhỏ.

Chính từ một cuộc tiễn đưa như thế, năm 1964, ông viết bài thơ “Cuộc chia ly màu đỏ”. Đó là lúc cuộc chiến tranh chống Mỹ ngày càng ác liệt, nhiều người chồng, người con phải rời gia đình để lên đường vào Nam. Điều làm nên sự đặc biệt của bài thơ là cách nhìn mới mẻ: thay vì tả cảnh chia tay bằng màu sắc ảm đạm và nước mắt, ông chọn sắc đỏ rực rỡ của chiếc áo người vợ trẻ, màu của tình yêu và niềm tin. Người vợ tiễn chồng không gục ngã trong đau buồn mà tiễn chồng bằng sự hiểu biết và tin tưởng, bởi họ hiểu rằng vì đất nước, họ phải biết xa nhau. Kết thúc bài thơ, màu đỏ ấy đồng hành cùng người lính trên đường hành quân, như thể cuộc chia ly chưa từng xảy ra.

Bài thơ được đăng trên báo Văn nghệ ngay trong năm 1964 và nhanh chóng được yêu mến. Nó được chép vào sổ tay của nhiều thế hệ học trò, được ngâm, được phổ nhạc, được đưa vào sách giáo khoa. Điều đáng quý là bài thơ viết giữa thời chiến nhưng không hô hào khô khan. Nó nói bằng tình yêu, bằng sự dịu dàng, để người đọc hiểu rằng lý tưởng lớn lao luôn bắt đầu từ những tình cảm nhỏ bé và chân thật nhất.

Nhưng Nguyễn Mỹ không dừng lại ở việc viết về chia ly. Khi tên tuổi ông đã được biết đến, ông lại chọn con đường mà bài thơ ông từng ca ngợi: lên đường vào chiến trường. Năm 1968, ông xung phong trở lại miền Nam, hoạt động ở Ban Tuyên huấn Khu V, làm phóng viên cho báo Cờ giải phóng Trung Trung Bộ. Với người cầm bút, chiến trường là nơi khó khăn nhất để viết, bởi ở đó có bom đạn, có đói rét, có những cuộc hành quân băng rừng vượt suối. Nhưng chính ở đó, ông làm nhiệm vụ của mình: đưa tiếng nói của cách mạng đến với bộ đội và nhân dân, ghi lại những gì mắt thấy tai nghe.

Ngày 16 tháng 5 năm 1971, trong lúc đi công tác ở cơ sở tại vùng Trà My, tỉnh Quảng Nam, ông gặp địch và hy sinh bên bờ sông Đăk Ta. Khi ấy ông mới ba mươi sáu tuổi. Ông ra đi khi còn rất nhiều dự định chưa kịp thực hiện, và phần lớn thơ ông chưa kịp đến với bạn đọc. Mãi đến năm 1980, chín năm sau ngày ông hy sinh, thơ ông mới được in chung trong tập “Sắc cầu vồng”. Đến năm 1993, tập “Thơ Nguyễn Mỹ” ra mắt với những bài thơ di cảo.

Sự đóng góp của ông được ghi nhận muộn nhưng xứng đáng. Ông được truy tặng Huy chương Vì sự nghiệp báo chí Việt Nam và Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật. Nhưng phần thưởng lớn nhất có lẽ là việc bài thơ của ông vẫn sống trong lòng người đọc. Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, mỗi khi nhắc đến tình yêu thời chiến, người ta lại nhớ đến người vợ áo đỏ và lời thì thầm của gió về những con người biết sống xa nhau vì Tổ quốc.

Câu chuyện về Nguyễn Mỹ cho tôi hiểu rằng người lính không chỉ chiến đấu bằng súng đạn mà còn bằng tình yêu và niềm tin vào tương lai. Ông viết về sự chia ly nhưng sống trọn vẹn cho sự đoàn tụ của dân tộc, dù chính ông không kịp chứng kiến ngày đất nước thống nhất. Hôm nay, khi được sống trong hòa bình, mỗi chúng ta cần biết ơn và trân trọng những người như ông, những người đã để lại cho đời một sắc đỏ không bao giờ phai.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn