Bài viết

Cuộc đời chiến sĩ Hoàng Quốc Việt

Đồng chí Hoàng Quốc Việt (tên khai sinh là Hạ Bá Cang), người chiến sĩ cộng sản mẫu mực, đã dành trọn gần 70 năm cuộc đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Từ phong trào công nhân đến những cương vị lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước, ông luôn là tấm gương sáng ngời về đức độ, liêm khiết và lòng yêu nước nồng nàn.

TP. Hồ Chí Minh14/06/2026Vũ Thị Thanh Thuỳ - Nhóm trưởng (Đoàn trường Đại học Sài Gòn)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
CUỘC ĐỜI CHIẾN SĨ HOÀNG QUỐC VIỆTĐồng chí Hoàng Quốc Việt tên thật là Hạ Bá Cang, sinh năm 1905 tại làng Đáp Cầu, tổng Đỗ Xá, huyện Võ Giàng, tỉnh Bắc Ninh (tức phường Đáp Cầu ngày nay). Ông là người chiến sĩ cộng sản mẫu mực, đã dành trọn gần 70 năm cuộc đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Từ phong trào công nhân đến những cương vị lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước, ông luôn là tấm gương sáng ngời về đức độ, liêm khiết và lòng yêu nước nồng nàn.Trong giai đoạn hoạt động Cách mạng ông đã xuất sắc có những tác phẩm tiêu biểu sau: Chặng đường nóng bỏng (hồi ký), Con đường theo Bác (hồi ký). Đồng chí Hoàng Quốc Việt đã được tặng thưởng Huân chương Sao Vàng - Huân chương cao quý nhất của Đảng và Nhà nước ta.​Tên của đồng chí được đặt cho nhiều đường phố, trường học lớn tại Hà Nội và các tỉnh thành trong cả nước (tiêu biểu là phố Hoàng Quốc Việt tại quận Cầu Giấy, Hà Nội).​Quá trình hoạt động cách mạng của ông bắt đầu từ năm 1925, ông tham gia phong trào đấu tranh đòi thả Phan Bội Châu và bị thực dân Pháp đuổi học - bước ngoặt đầu tiên trong cuộc đời. Năm 1926 đến 1927, ông trở về quê Đáp Cầu (Bắc Ninh), vừa lao động kiếm sống vừa tự học, đồng thời tham gia các hoạt động yêu nước và bước đầu liên hệ với những người cùng chí hướng. Đến năm 1928, ông tham gia Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, được Nguyễn Đức Cảnh giác ngộ và kết nạp. Đây là bước ngoặt quan trọng, đánh dấu sự chuyển biến từ người thợ yêu nước sang người chiến sĩ cách mạng theo khuynh hướng vô sản. Từ năm 1929, ông đã tích cực hoạt động trong phong trào “vô sản hóa” ở Nam Kỳ; trực tiếp lao động, tuyên truyền, giác ngộ và tổ chức công nhân, góp phần xây dựng cơ sở cách mạng trong giai cấp công nhân. Khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập (1930), ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương, khẳng định vai trò là một trong những cán bộ nòng cốt của Đảng từ rấtTháng 4 năm 1930, trên đường ra Bắc công tác, đồng chí bị thực dân Pháp bắt tại Hải Phòng và bị chúng tra tấn dã man dẫn đến thương tật suốt đời. Nửa cuối năm 1930, đồng chí bị thực dân Pháp kết án tù chung thân, bị đày ra Côn Đảo cùng với các đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ... Tại Côn Đảo, đồng chí cùng các đồng chí trong Đảng tiến hành xây dựng tổ chức Đảng trong tù, thực hiện việc “Biến nhà tù thành trường học cách mạng”.

Từ năm 1936 đến năm 1939, Hoàng Quốc Việt hoạt động trong phong trào dân chủ đông dương, ông vừa đấu tranh đồng thời cũng vừa xây dựng lực lượng công nhân. Sau khi ông ra tù ở cuối năm 1936 ông cùng với một số đồng chí tổ chức xuất bản một số tờ báo ở Hà Nội, điển hình nhất là tờ báo Thời Thế Và được phân công phụ trách các tờ báo của Đảng ở Bắc Kỳ; đồng thời được cử làm bí thư xứ ủy Bắc Kỳ ở tháng 5 năm 1937.

Ở giai đoạn năm 1939, Quốc Việt chuyển sang hoạt động bí mật, ông đã bị bắt giam nhiều lần nhưng ông vẫn kiên trì với cách mạng. Trong những năm cực nhọc ấy đồng chí đã đi nhiều nơi trên khắp đất nước, chắp nối, khôi phục, củng cố và phát triển nhiều cơ sở Đảng và lực lượng quần chúng, chuyển hướng các hình thức và phương thức nhiệm vụ cho phù hợp với tình hình nhiệm vụ.

Năm 1941 Chủ tịch Hồ Chí Minh về nước. Tại Hội nghị Trung ương lần thứ Tám, Hoàng Quốc Việt được bầu vào Ban Thường vụ Trung ương Đảng (Ban Thường vụ lúc đó có 3 người: Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt). Tháng 8 năm 1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp tại Tân Trào tiếp tục bầu ông vào Ban Thường vụ để cùng Trung ương lãnh đạo cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.

Giữa những ngày Thu lịch sử 1945, ông Hoàng Quốc Việt mang theo sứ mệnh của Trung ương tiến gấp vào Nam để chỉ đạo tổng khởi nghĩa, đặt nền móng cho chính quyền cách mạng non trẻ. Khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ông trở thành “linh hồn” của phong trào công nhân khi chủ trì thành lập và lãnh đạo Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Dưới sự dẫn dắt của ông, những người thợ mỏ, thợ máy đã biến tay búa thành tay súng, vừa sản xuất vừa chiến đấu, trở thành hậu phương vững chắc cho tiền tuyến.

Tại Đại hội II (1951), uy tín của ông rực sáng khi được bầu vào Bộ Chính trị, trực tiếp phụ trách công tác dân vận và mặt trận. Ông luôn xuất hiện ở những nơi khó khăn nhất, lắng nghe tiếng nói của quần chúng để thắt chặt khối đại đoàn kết dân tộc. Tuy nhiên, con đường cách mạng không chỉ có hoa hồng. Năm 1956, sau những sai lầm trong cải cách ruộng đất tại Thái Nguyên, ông thẳng thắn nhận trách nhiệm và rời khỏi Bộ Chính trị. Dẫu vậy, bản lĩnh của người cộng sản không cho phép ông dừng lại.

Năm 1960, ông tiếp tục dấn thân vào một sứ mệnh mới: Trở thành Viện trưởng đầu tiên của Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao. Suốt 16 năm ròng rã, ông là người “giữ cán cân công lý”, đặt nền móng cho pháp chế xã hội chủ nghĩa, đồng thời miệt mài vun đắp tình hữu nghị quốc tế. Cho đến ngày non sông thống nhất (1976), ông lại tiếp tục được Đảng và nhân dân tin tưởng bầu vào Ban Chấp hành Trung ương, viết tiếp bản anh hùng ca về một đời tận tụy, liêm chính và đầy lòng trắc ẩn với nhân dân lao động.

Tại Đại hội Mặt trận Dân tộc Thống nhất (tháng 2/1977), ông được bầu làm Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Năm 1983, Ông kết thúc nhiệm kỳ Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Năm 1986, dù không còn ở cương vị cao nhất trong Chính phủ nhưng ông ủng hộ những luồng tư tưởng mới tại Đại hội VI, khuyến khích việc nhìn thẳng vào sự thật để đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng.

Ông qua đời vào ngày 25/12/1992 tại Hà Nội, để lại di sản về một nhân cách cộng sản mẫu mực, hết lòng vì dân, vì nước.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn