“Cuộc đời đẹp nhất là trên trận tuyến đánh quân thù”: Biểu tượng của lý tưởng sống một thời-12a5
Giữa tháng Tư lịch sử, trong không khí hướng về đại lễ thống nhất non sông, chúng tôi tìm đến vị anh hùng từng làm lay động cả một thế hệ – Thiếu tướng, Anh hùng LLVTND Lê Mã Lương. Ở ông, khí phách người lính và lý tưởng sống vì đất nước vẫn bừng cháy sau hơn nửa thế kỷ. Gặp ông, là gặp lại một thời rực lửa nhưng trong sáng, nơi “cuộc đời đẹp nhất là trên trận tuyến đánh quân thù” không chỉ là lời nói – mà là một chân lý sống.
Nhà ông ở cuối con ngõ 335, Hoàng Hoa Thám (Hà Nội). Mở cửa đón chúng tôi là vợ ông- cô giáo Lê Thị Bích Đào. Bà pha trà, mời chúng tôi. Đúng lúc Anh hùng Lê Mã Lương từ trên lầu xuống. Ở tuổi ngoài bảy mươi, ông vẫn phong độ, nhanh nhẹn, dáng vóc cường tráng, đầy nhiệt huyết. Vẫn là chất lính: mộc mạc, chân thành, cương trực và yêu, ghét rõ ràng. Ở ông, quá khứ và hiện tại như chưa từng tách rời- người lính năm xưa vẫn luôn sẵn sàng “chiến đấu” cho lẽ phải, cho những điều đúng đắn trong thời cuộc hôm nay.
Xong một tuần trà. Câu chuyện của chúng tôi xoay quanh vấn đề thời sự: về công cuộc tinh giản bộ máy, sắp xếp lại đơn vị hành chính cấp tỉnh, bỏ cấp huyện; về câu chuyện hội nhập và những thách thức khi Mỹ áp mức thuế 46% lên hàng hóa Việt Nam. Ông lắng nghe, bình luận sắc sảo mà vẫn đau đáu một niềm tin mãnh liệt rằng, đất nước rồi sẽ vượt qua được mọi thử thách nếu giữ vững tinh thần đoàn kết và bản lĩnh như những năm tháng chiến tranh.

Ngừng câu chuyện, nhấp một ngụm trà, ông Lương chỉ lên tấm áp phích treo góc phòng khách, nói: “Tớ thích nhất tấm hình này!”. Thì ra đó là tấm áp phích được lồng trong khung kính, hình một chiến sĩ ôm súng xông lên trong khói đạn. Bên dưới có dòng chữ to: “Cuộc đời đẹp nhất là trên trận tuyến đánh quân thù”.
Tôi xúc động thực sự. Hình ảnh ấy, câu nói ấy, không đơn thuần nổi tiếng và được ghi vào sử sách, mà nó là tuổi thơ tôi.
Chúng tôi, những học trò tuổi mười sáu mười bảy, đã lớn lên trong tiếng vọng của những câu chuyện về ông, học tập tấm gương của ông như một lý tưởng sống. “Cuộc đời đẹp nhất là trên trận tuyến đánh quân thù” không chỉ là tuyên ngôn của riêng ông, mà đã trở thành châm ngôn sống của biết bao thanh niên thời ấy- những người tin rằng sống đẹp là sống có lý tưởng, sống vì đất nước. Nó đã trở thành một tuyên ngôn sống đầy hào sảng, thôi thúc lớp lớp thanh niên thời ấy dấn thân, cống hiến, và sống sao cho xứng đáng.
Tôi còn nhớ một buổi chiều, sân trường lặng ngắt trong ánh hoàng hôn mỏng như khói. Bộ phim “Bài ca ra trận”, kể về cuộc đời và chiến công của ông, được chiếu trên màn ảnh dựng tạm giữa sân cỏ. Những hình ảnh đen trắng, tiếng súng, tiếng bước chân hành quân, ánh mắt người lính... tất cả như một luồng điện chạy dọc sống lưng. Tôi nhìn quanh: bạn bè tôi, có đứa cắn môi đến bật máu, có đứa khẽ gục đầu lên vai nhau mà không nói thành lời. Chúng tôi đã lớn lên cùng một lý tưởng- bắt đầu từ những buổi chiều như thế.

Thưa ông vẫn muốn ông nói lại một lần nữa, câu nói “Cuộc đời đẹp nhất là trên trận tuyến đánh quân thù” ra đời trong hoàn cảnh nào?
- Ngày cuối cùng, trước khi tạm biệt bạn bè, người thân để lên đường ra mặt trận, có một cô bạn thân đã tặng tôi một cuốn sổ tay nhỏ xinh. Cuốn sổ ấy đã theo tôi qua những ngày tháng khốc liệt của cuộc chiến tranh. Đó là cuốn nhật ký của tôi. Tôi ghi chép lại những gì xảy ra quanh tôi, đồng đội tôi trong những ngày gian khó nhất của cuộc chiến tranh.
Tôi không viết một câu cụ thể như thế, nhưng toàn bộ nội dung cuốn nhật ký toát lên một tinh thần của thế hệ chúng tôi là vinh quang nhất, đẹp đẽ nhất với người lính là chiến đấu bảo vệ non sông đất nước. Chính Đại tá Đinh Khánh Vân (phóng viên Báo QĐND) đã khái quát thành câu nói ngắn gọn ấy trong Truyện ký của ông “Bài ca ra trận”.
Có lần Đại tá Đinh Khánh Vân kể lại với tôi (khi ấy tôi cũng là phóng viên báo QĐND) rằng: “Khi tôi viết về Lê Mã Lương, tôi đã theo sát anh ấy đến mức khi anh ấy bị ốm, tôi cũng vào bệnh viện, chỉ đợi anh tỉnh lại để tiếp tục hỏi chuyện. Và tôi không dừng lại ở đó, tôi còn về quê anh ấy nữa.
Bài viết về Lê Mã Lương đã gây được tiếng vang lớn, đến mức nhiều đơn vị trong và ngoài quân đội đã mời tôi đến chia sẻ về nhân vật nổi tiếng này và câu nói: “Cuộc đời đẹp nhất của tuổi trẻ là trên trận tuyến đánh quân thù”. Tôi nghĩ, một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của nhà báo là phải có khả năng khái quát đời sống, nếu thiếu điều này, họ sẽ không thể truyền tải được những thông điệp có giá trị cho độc giả.”

Có một sự kiện khá thú vị về bộ phim “Bài ca ra trận” (lấy theo tên tập truyện ký của nhà báo Đinh Khánh Vân). Diễn viên Dũng Nhi (người đóng vai Nam trong bộ phim) từng kể: “Năm tôi chuẩn bị ra trường, mẹ tôi – diễn viên Thu Hà của Đoàn kịch nói Trung ương đi lưu diễn dài ngày. Lên chỗ sơ tán chia tay mẹ, tôi gặp đạo diễn Quốc Long, lúc bấy giờ đang cùng đạo diễn Trần Đắc tìm kiếm gương mặt đảm nhận nhân vật anh hùng Lê Mã Lương cho bộ phim “Bài ca ra trận”.
Họ hỏi, tôi gật. Thử vai xong, vừa được chọn thì tôi có lệnh lên đường nhập ngũ. Đoàn phim trình bày, ban tuyển quân bảo, đất nước cần Lê Mã Lương trực tiếp cầm súng chứ không cần trong phim”.
Thế là Dũng Nhi đeo ba lô lên đường vào Quảng Trị, chiến đấu ở Thành cổ suốt 81 ngày đêm. Rồi người ta lục lại hồ sơ, thấy nhà có 3 con trai thì 2 đã là liệt sĩ, chàng lính trẻ được xuất ngũ. Cầm giấy ra quân về trường, Dũng Nhi lại gặp đoàn phim “Bài ca ra trận”. Thời đó, mỗi phim chuẩn bị cả 2-3 năm trời mới quay. Vậy là vai diễn trong “Bài ca ra trận” được trả lại cho anh lính vẫn còn khét lẹt mùi thuốc súng.

“Con đã sống và chiến đấu như lời mẹ dặn”
Nhà thơ Tố Hữu từng viết: “Đẹp biết mấy bài ca ra trận/ Mỗi chàng trai, một Lê Mã Lương”. Vậy ông bắt đầu ra trận như thế nào, thưa ông?
- Tôi quê gốc ở Nông Cống, Thanh Hóa. Sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng. Cha tôi hy sinh trong chiến dịch Điện Biên Phủ, mẹ ở vậy, tần tảo một mình nuôi các con khôn lớn. Theo quy định thì tôi được miễn nghĩa vụ quân sự. Thế nhưng, vào đúng thời điểm ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ- năm 1967, khi mới 17 tuổi và đang học cấp 3, cũng như nhiều bạn học của tôi thời ấy, tôi đã viết đơn tình nguyện lên đường nhập ngũ. Tôi được biên chế vào Đại đội 1, Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 24, thuộc Sư đoàn 304- một đơn vị anh hùng lẫy lừng trong lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam.
Sau những ngày huấn luyện gấp rút, tháng 12 năm ấy, chúng tôi nhận lệnh hành quân vào chiến trường Quảng Trị. Ngày tiễn con ra trận, mẹ tôi nghẹn ngào dặn: “Con ra đi cố gắng rèn luyện cho bằng anh, bằng em, đừng lo cho mẹ. Dù gian khổ đến đâu, con cũng phải dốc lòng chiến đấu vì Tổ quốc, vì niềm tự hào của gia đình và nhân dân…”.
Lời dặn ấy của mẹ là nguồn động viên vô giá, tiếp thêm cho tôi ý chí và nghị lực để vượt qua mọi gian khổ của người lính cụ Hồ. Không ai hiểu chiến tranh hơn những người mẹ. Mẹ tôi từng mất chồng trong kháng chiến chống Pháp, và lần tiễn đưa này, bà hiểu rằng mình có thể lại mất thêm đứa con duy nhất. Nhưng mẹ vẫn chấp nhận, vẫn động viên tôi chiến đấu cho xứng đáng với anh linh của cha- một người lính bộ đội Cụ Hồ mẫu mực. Đó không chỉ là sự hy sinh thầm lặng của mẹ tôi, mà còn là biểu tượng cao cả của tất cả những người mẹ Việt Nam.




