“Cuộc đời đẹp nhất là trên trận tuyến đánh quân thù”: Biểu tượng của lý tưởng sống một thời
Giữa tháng Tư lịch sử, trong không khí hướng về đại lễ thống nhất non sông, chúng tôi tìm đến vị anh hùng từng làm lay động cả một thế hệ – Thiếu tướng, Anh hùng LLVTND Lê Mã Lương. Ở ông, khí phách người lính và lý tưởng sống vì đất nước vẫn bừng cháy sau hơn nửa thế kỷ. Gặp ông, là gặp lại một thời rực lửa nhưng trong sáng, nơi “cuộc đời đẹp nhất là trên trận tuyến đánh quân thù” không chỉ là lời nói – mà là một chân lý sống.
Giữa tháng Tư lịch sử, trong không khí hướng về đại lễ thống nhất non sông, chúng tôi tìm đến vị anh hùng từng làm lay động cả một thế hệ – Thiếu tướng, Anh hùng LLVTND Lê Mã Lương. Ở ông, khí phách người lính và lý tưởng sống vì đất nước vẫn bừng cháy sau hơn nửa thế kỷ. Gặp ông, là gặp lại một thời rực lửa nhưng trong sáng, nơi “cuộc đời đẹp nhất là trên trận tuyến đánh quân thù” không chỉ là lời nói – mà là một chân lý sống.Chia sẻ
Bình luận0Dân Việt trên
Nguyên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và các nguyên lãnh đạo họp mặt 50 năm Ngày Giải phóng miền NamVị tướng từng là Chính ủy Mặt trận Tây Nguyên, "bạn chiến đấu" của Đại tướng Võ Nguyên GiápĐiều đặc biệt về Đại tướng Văn Tiến Dũng, Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử
Thiếu tướng -Anh hùng LLVTND Lê Mã Lương. Ảnh Phạm HưngNgừng câu chuyện, nhấp một ngụm trà, ông Lương chỉ lên tấm áp phích treo góc phòng khách, nói: “Tớ thích nhất tấm hình này!”. Thì ra đó là tấm áp phích được lồng trong khung kính, hình một chiến sĩ ôm súng xông lên trong khói đạn. Bên dưới có dòng chữ to: “Cuộc đời đẹp nhất là trên trận tuyến đánh quân thù”.Tôi xúc động thực sự. Hình ảnh ấy, câu nói ấy, không đơn thuần nổi tiếng và được ghi vào sử sách, mà nó là tuổi thơ tôi.Chúng tôi, những học trò tuổi mười sáu mười bảy, đã lớn lên trong tiếng vọng của những câu chuyện về ông, học tập tấm gương của ông như một lý tưởng sống. “Cuộc đời đẹp nhất là trên trận tuyến đánh quân thù” không chỉ là tuyên ngôn của riêng ông, mà đã trở thành châm ngôn sống của biết bao thanh niên thời ấy- những người tin rằng sống đẹp là sống có lý tưởng, sống vì đất nước. Nó đã trở thành một tuyên ngôn sống đầy hào sảng, thôi thúc lớp lớp thanh niên thời ấy dấn thân, cống hiến, và sống sao cho xứng đáng.Tôi còn nhớ một buổi chiều, sân trường lặng ngắt trong ánh hoàng hôn mỏng như khói. Bộ phim “Bài ca ra trận”, kể về cuộc đời và chiến công của ông, được chiếu trên màn ảnh dựng tạm giữa sân cỏ. Những hình ảnh đen trắng, tiếng súng, tiếng bước chân hành quân, ánh mắt người lính... tất cả như một luồng điện chạy dọc sống lưng. Tôi nhìn quanh: bạn bè tôi, có đứa cắn môi đến bật máu, có đứa khẽ gục đầu lên vai nhau mà không nói thành lời. Chúng tôi đã lớn lên cùng một lý tưởng- bắt đầu từ những buổi chiều như thế.
Ông Lê Mã Lương thời còn là chiến sĩ ở Quảng Trị. Ảnh Tư liệuThưa ông vẫn muốn ông nói lại một lần nữa, câu nói “Cuộc đời đẹp nhất là trên trận tuyến đánh quân thù” ra đời trong hoàn cảnh nào?- Ngày cuối cùng, trước khi tạm biệt bạn bè, người thân để lên đường ra mặt trận, có một cô bạn thân đã tặng tôi một cuốn sổ tay nhỏ xinh. Cuốn sổ ấy đã theo tôi qua những ngày tháng khốc liệt của cuộc chiến tranh. Đó là cuốn nhật ký của tôi. Tôi ghi chép lại những gì xảy ra quanh tôi, đồng đội tôi trong những ngày gian khó nhất của cuộc chiến tranh.Tôi không viết một câu cụ thể như thế, nhưng toàn bộ nội dung cuốn nhật ký toát lên một tinh thần của thế hệ chúng tôi là vinh quang nhất, đẹp đẽ nhất với người lính là chiến đấu bảo vệ non sông đất nước. Chính Đại tá Đinh Khánh Vân (phóng viên Báo QĐND) đã khái quát thành câu nói ngắn gọn ấy trong Truyện ký của ông “Bài ca ra trận”.Có lần Đại tá Đinh Khánh Vân kể lại với tôi (khi ấy tôi cũng là phóng viên báo QĐND) rằng: “Khi tôi viết về Lê Mã Lương, tôi đã theo sát anh ấy đến mức khi anh ấy bị ốm, tôi cũng vào bệnh viện, chỉ đợi anh tỉnh lại để tiếp tục hỏi chuyện. Và tôi không dừng lại ở đó, tôi còn về quê anh ấy nữa.Bài viết về Lê Mã Lương đã gây được tiếng vang lớn, đến mức nhiều đơn vị trong và ngoài quân đội đã mời tôi đến chia sẻ về nhân vật nổi tiếng này và câu nói: “Cuộc đời đẹp nhất của tuổi trẻ là trên trận tuyến đánh quân thù”. Tôi nghĩ, một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của nhà báo là phải có khả năng khái quát đời sống, nếu thiếu điều này, họ sẽ không thể truyền tải được những thông điệp có giá trị cho độc giả.”
Bức ký họa.Có một sự kiện khá thú vị về bộ phim “Bài ca ra trận” (lấy theo tên tập truyện ký của nhà báo Đinh Khánh Vân). Diễn viên Dũng Nhi (người đóng vai Nam trong bộ phim) từng kể: “Năm tôi chuẩn bị ra trường, mẹ tôi – diễn viên Thu Hà của Đoàn kịch nói Trung ương đi lưu diễn dài ngày. Lên chỗ sơ tán chia tay mẹ, tôi gặp đạo diễn Quốc Long, lúc bấy giờ đang cùng đạo diễn Trần Đắc tìm kiếm gương mặt đảm nhận nhân vật anh hùng Lê Mã Lương cho bộ phim “Bài ca ra trận”.Họ hỏi, tôi gật. Thử vai xong, vừa được chọn thì tôi có lệnh lên đường nhập ngũ. Đoàn phim trình bày, ban tuyển quân bảo, đất nước cần Lê Mã Lương trực tiếp cầm súng chứ không cần trong phim”.Thế là Dũng Nhi đeo ba lô lên đường vào Quảng Trị, chiến đấu ở Thành cổ suốt 81 ngày đêm. Rồi người ta lục lại hồ sơ, thấy nhà có 3 con trai thì 2 đã là liệt sĩ, chàng lính trẻ được xuất ngũ. Cầm giấy ra quân về trường, Dũng Nhi lại gặp đoàn phim “Bài ca ra trận”. Thời đó, mỗi phim chuẩn bị cả 2-3 năm trời mới quay. Vậy là vai diễn trong “Bài ca ra trận” được trả lại cho anh lính vẫn còn khét lẹt mùi thuốc súng.
Ông Lê Mã Lương ở cầu Đông Hà, Quảng Trị năm 1972. Ảnh Tư liệu“Con đã sống và chiến đấu như lời mẹ dặn”Nhà thơ Tố Hữu từng viết: “Đẹp biết mấy bài ca ra trận/ Mỗi chàng trai, một Lê Mã Lương”. Vậy ông bắt đầu ra trận như thế nào, thưa ông?- Tôi quê gốc ở Nông Cống, Thanh Hóa. Sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng. Cha tôi hy sinh trong chiến dịch Điện Biên Phủ, mẹ ở vậy, tần tảo một mình nuôi các con khôn lớn. Theo quy định thì tôi được miễn nghĩa vụ quân sự. Thế nhưng, vào đúng thời điểm ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ- năm 1967, khi mới 17 tuổi và đang học cấp 3, cũng như nhiều bạn học của tôi thời ấy, tôi đã viết đơn tình nguyện lên đường nhập ngũ. Tôi được biên chế vào Đại đội 1, Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 24, thuộc Sư đoàn 304- một đơn vị anh hùng lẫy lừng trong lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam.Sau những ngày huấn luyện gấp rút, tháng 12 năm ấy, chúng tôi nhận lệnh hành quân vào chiến trường Quảng Trị. Ngày tiễn con ra trận, mẹ tôi nghẹn ngào dặn: “Con ra đi cố gắng rèn luyện cho bằng anh, bằng em, đừng lo cho mẹ. Dù gian khổ đến đâu, con cũng phải dốc lòng chiến đấu vì Tổ quốc, vì niềm tự hào của gia đình và nhân dân…”.Lời dặn ấy của mẹ là nguồn động viên vô giá, tiếp thêm cho tôi ý chí và nghị lực để vượt qua mọi gian khổ của người lính cụ Hồ. Không ai hiểu chiến tranh hơn những người mẹ. Mẹ tôi từng mất chồng trong kháng chiến chống Pháp, và lần tiễn đưa này, bà hiểu rằng mình có thể lại mất thêm đứa con duy nhất. Nhưng mẹ vẫn chấp nhận, vẫn động viên tôi chiến đấu cho xứng đáng với anh linh của cha- một người lính bộ đội Cụ Hồ mẫu mực. Đó không chỉ là sự hy sinh thầm lặng của mẹ tôi, mà còn là biểu tượng cao cả của tất cả những người mẹ Việt Nam.
Các quân tư trang của Thiếu tướng - Anh hùng LLVTND Lê Mã Lương được trưng bày tại nhà riêng. Ảnh Phạm HưngNgoài các trận đánh lớn, kỷ niệm đáng nhớ nhất trong cuộc đời binh nghiệp của ông là gì?- Khi đơn vị tôi đang chiến đấu tại căn cứ Làng Vây đầu năm 1969, tôi mới 18 tuổi đời, một tuổi quân. Sau trận đánh giải phóng Làng Vây, đồng chí tổ trưởng tổ Đảng gọi tôi lại và nói: “Cậu viết đơn xin vào Đảng đi!”. Khi ấy, chiến sự còn đang vô cùng ác liệt, ta kiên quyết giữ vững Làng Vây, không để địch tái chiếm. Vậy mà giữa lúc ấy, tôi được chuẩn bị kết nạp Đảng. Tôi xúc động thốt lên: “Em được kết nạp Đảng ngay tại mặt trận ạ?”. Đồng chí tổ trưởng tươi cười: “Kết nạp Đảng tại trận địa thì càng vinh dự chứ! Có mấy ai có được dịp như thế đâu”.Sau trận đánh, tôi tranh thủ viết đơn xin vào Đảng với tất cả lòng thành kính và niềm xúc động dâng trào. Ngày ấy, để trở thành đảng viên, chúng tôi sẵn sàng hy sinh cả mạng sống vì Đảng, vì cách mạng. Sau khi nộp đơn lên tổ chức, tôi lại tiếp tục ra trận. Trong một trận chiến sau đó, tôi bị thương nặng, hỏng một mắt và phải chuyển về tuyến sau điều trị. Vì thế, mãi đến một năm sau, khi bình phục và trở lại mặt trận, tôi mới chính thức được kết nạp.Giữa chiến trường rực lửa bom đạn, chúng tôi đứng nghiêm trang tuyên thệ, cất cao lời nguyện suốt đời trung thành với Đảng, với lý tưởng cách mạng. Lời thề thiêng liêng ấy đã khắc sâu trong tim tôi suốt cả cuộc đời binh nghiệp.Câu chuyện về tên gọi “Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam”Sau ngày đất nước thống nhất, Lê Mã Lương tiếp tục tham gia chiến đấu: diệt phỉ Phulrô ở Tây Nguyên, bảo vệ biên giới phía Bắc. Khi hòa bình lập lại, ông trở lại mái trường xưa, theo học ngành Lịch sử tại Đại học Tổng hợp Hà Nội – nơi ông từng tạm gác để lên đường cầm súng. Ông bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ và được bổ nhiệm làm Giám đốc Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam (năm 2006) cho đến lúc nghỉ hưu (2011). Trước đó, năm 2007, ông được Nhà nước phong hàm Thiếu tướng.Trên cương vị Giám đốc Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, ông đã có nhiều tìm tòi, sáng tạo và đóng góp to lớn, giúp biến nơi đây thành một thiết chế văn hóa – lịch sử có tầm vóc quốc gia, nơi lưu giữ ký ức chiến tranh và truyền cảm hứng yêu nước cho các thế hệ sau.Một trong những dấu ấn sâu đậm nhất mà ông để lại, được các thế hệ lãnh đạo Bảo tàng trân trọng và ghi nhận, chính là quyết định đổi tên từ “Bảo tàng Quân đội” thành “Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam”. Câu chuyện ấy bắt đầu từ đâu, thưa ông?- Lịch sử dân tộc Việt Nam là một bản trường ca bất tận về công cuộc dựng nước và giữ nước- từ thời các Vua Hùng đến thời đại Hồ Chí Minh- với biết bao cuộc kháng chiến vệ quốc oai hùng. Tôi luôn trăn trở: tại sao một dòng chảy lịch sử hào hùng suốt mấy nghìn năm ấy lại chỉ được gọi vỏn vẹn là “Bảo tàng Quân đội”? Cái tên ấy khiến người ta dễ hiểu lầm rằng bảo tàng chỉ phản ánh một giai đoạn hiện đại trong lịch sử quân sự.Tôi còn nhớ một lần, một đoàn khách quốc tế đến tham quan. Sau khi xem xong các gian trưng bày về kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, họ hỏi tôi: “Còn lịch sử xa xưa của một dân tộc quật cường như Việt Nam, sao lại không thấy?” Câu hỏi ấy khiến tôi nhói lòng- không chỉ vì sự thiếu sót trong cách kể lịch sử, mà vì đó là một sự bất công với tiền nhân.Từ đó, tôi nung nấu ý tưởng: phải trả lại cho lịch sử quân sự Việt Nam sự toàn vẹn trong chiều dài của nó. Việc đổi tên bảo tàng thành “Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam” không chỉ là chuyện hình thức- đó là một bước chuyển mang tính bản chất. Tên gọi mới đã bao quát đầy đủ hơn chiều sâu lịch sử đấu tranh giữ nước của dân tộc ta, từ buổi bình minh dựng nước đến những cuộc chiến vệ quốc hiện đại.Nhưng chắc hẳn việc đổi tên ấy ban đầu không hề dễ dàng, thưa ông?- Đúng vậy. Đó là một hành trình đầy gian nan, không hề “xuôi chèo mát mái”. Ý tưởng ấy xuất phát từ tâm huyết cá nhân, nhưng cũng là khát vọng chung của nhiều thế hệ Bộ đội Cụ Hồ, của những người suốt đời gắn bó với sự nghiệp giữ gìn di sản quân sự.Tôi tự hứa với lòng: phải làm một điều gì đó xứng đáng cho bảo tàng- cho lịch sử- dù có gặp phải bao nhiêu trở ngại. Mỗi khi có dịp tiếp xúc với các tướng lĩnh, tôi lại trình bày ý tưởng của mình. Có một lần, trong buổi làm việc với Đại tướng Võ Nguyên Giáp, tôi chia sẻ về dự định đổi tên. Đại tướng nghe xong thì reo lên: “Hay quá! Tại sao trước nay không ai nghĩ ra điều đó?”Sau đó, tôi tiếp tục xin ý kiến Đại tướng Chu Huy Mân, Đại tướng Nguyễn Quyết- tất cả đều đồng tình và ủng hộ. Thế nhưng, khi trình đề án lên cơ quan cấp trên, tôi bất ngờ vấp phải phản ứng gay gắt.Nhưng tôi không lùi bước. Bởi tôi tin, lịch sử dân tộc không thể bị rút gọn. Lịch sử xứng đáng được gọi đúng tên mình. Và bảo tàng- với tư cách là nơi lưu giữ ký ức thiêng liêng- phải là nơi phản ánh trọn vẹn hành trình kháng chiến, tinh thần yêu nước và bản lĩnh của người Việt suốt hàng ngàn năm.Nay thì khác rồi, Bảo tàng giờ đây không chỉ mang tên Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam mà nó còn được chuyển đến một địa điểm rộng lớn: 74ha và bề thế hơn nhiều- xứng đáng với tầm vóc của một Bảo tàng lịch sử Quân sự.
Thiếu tướng Lê Mã Lương và vợ. Ảnh Phạm Hưng“Cảm ơn em- người vợ anh hết lòng yêu quý”Khi câu chuyện của chúng tôi đi đến hồi kết, ông gọi vợ: “chuẩn bị cho bọn anh đồ nhắm đi”. Bà Đào xuống bếp chừng 5 phút thì nói vọng ra phòng khách: “Mời các anh vào đi”.Trên bàn đã thấy hũ rượu, mà theo lời ông thì ngâm với 27 loại thảo dược, đĩa giò, chả cuốn, lọ củ kiệu (xứ Thanh) chua.Vợ ông là cô giáo Lê Thị Bích Đào. Họ quen nhau vào tháng 12 năm 1971, khi ông Lê Mã Lương được mời về giao lưu tại trường cấp 2 Tiền Phong (Mê Linh, Hà Nội), nơi cô giáo Đào đang công tác. Tình yêu của họ nảy nở trong bối cảnh chiến tranh, được duy trì qua những lá thư đầy cảm xúc. Năm 1974, họ kết hôn, và cô Đào trở thành hậu phương vững chắc cho ông Lê Mã Lương trong suốt những năm tháng chiến đấu và sau này trong cuộc sống.Để kể về tình yêu của họ không gì tốt hơn là chúng ta lật những trang nhật ký chiến trường mà người lính Lê Mã Lương ghi cho vợ. Nên nhớ đây không phải là những lời tâm sự hôm nay, trước mặt để nịnh vợ, mà là nơi đang diễn ra những trận chiến ác liệt, người chiến binh ấy có thể hy sinh bất cứ lúc nào.Trong một dòng ngắn ngủi ngày 18/11/1974, anh viết: “Buồn quá, không biết tin vợ”. Lo âu, mong ngóng. Hai ngày sau, con tim ấy bỗng reo vui khi nhận tin từ đồng đội: vợ anh đã có thai! Anh xúc động nghẹn ngào, cảm xúc dâng trào như dòng thác cuộn, nhưng vẫn gắng giữ lại trong lòng. Chỉ khi còn một mình trong căn hầm nhỏ giữa chiến trường, Lê Mã Lương mới dám thổ lộ nỗi lòng:“Trời! Sao lúc này nhớ vợ đến thế! Em ơi! Làm sao tả hết được nỗi lòng anh thương nhớ em. Từ lúc nào trong mình có hai Lương rõ rệt. Một Lương muốn có đứa con đầu lòng sớm, và một Lương mong em đừng có mang. Có con sớm ai chẳng mong, nhưng nếu chẳng may anh ngã xuống, vợ con sẽ khổ biết nhường nào!”. Anh tự vấn, rồi đấu tranh với chính mình. Lý trí người lính buộc con tim phải gác lại hạnh phúc riêng: “Thôi, hãy tập trung vào nhiệm vụ đã. Ích kỷ quá, Lương ạ!”Chiến sự ở cao điểm 1062 ngày một ác liệt. Lê Mã Lương vẫn giữ thói quen ghi nhật ký mỗi ngày, nhưng tuyệt nhiên không nhắc đến vợ. Anh đã giữ trọn lời hứa “tập trung vào nhiệm vụ”. Mãi đến tròn một tháng sau, ngày 20/12/1974,anh viết: “Đoàn cán bộ của trung đoàn đi ra Bắc đã về đến sư đoàn, có thể khi vào đây mọi người có ghé qua chỗ Đào, như vậy ắt có thư vợ và thứ gì đó vợ gửi cho. Mong tin vợ đến cháy ruột cháy gan. Chẳng hiểu sao 4 tháng qua không có tin gì.”Rồi ông cũng nhận được thư từ vợ gửi vào, ngày 21/12/1974, ông viết: “Em thân yêu! Nhận được thư em, anh có cảm giác như mình có một sức khỏe phi thường. Em đã tiếp sức cho anh chăng?”.Tết Ất Mão, 1975, ông cùng đồng đội đón xuân giữa chiến trường đất Quảng. Đã tám năm rồi, Lê Mã Lương không được ăn Tết bên gia đình. Tối 30 Tết, ông thổ lộ trong nhật ký: “Em thương yêu! Chắc em buồn và nhớ lắm phải không? Đêm qua anh đã thức đến 1 giờ sáng để xem thư em. Anh biết em vất vả nhiều lắm: lo cho anh, cho con và cho cả chính mình. Lần đầu bước vào cuộc đời làm mẹ trong hoàn cảnh éo le, làm sao không khỏi lo lắng. Biết an ủi em thế nào đây, anh chỉ còn biết cảm ơn em – người vợ anh hết lòng yêu quý”.Nhiều, còn nhiều lắm những dòng nhật ký như vậy: chan chứa nỗi nhớ thương và trìu mến, cháy bỏng yêu thương.Rời nhà Anh hùng Lê Mã Lương, trời đã xế chiều, những vệt nắng cuối cùng đổ lên hàng cây cây hai bên đường và cờ đỏ sao vàng cắm trước các căn nhà dọc theo hai bên phố như đang tô điểm cho Hà Nội, chờ ngày 30/4!


