CUỘC ĐỜI MẸ
Mẹ sinh ra vào đầu thế kỷ (năm Quý Mão 1903) trong một gia đình cố nông
không một tấc đất cắm dùi, suốt đời làm thuê, làm mướn, xe ẻ, gánh nước… các
loại công việc nặng nhọc nhất của nghề làm muối.
Lớn lên trong cảnh tối tăm của một nước thuộc địa, khốn cùng của người
dân nô lệ, cô thiếu nữ Nguyễn Thị Ệp may mắn được trời phú cho sức khỏe và đức
tính nhẫn nại, chịu thương chịu khó. Không có chữ cũng chẳng có nghề, cô đi đội
muối thuê từ kho xuống thuyền cho các chủ thuyền chở đi bán ở các nơi, kiếm
những đồng xu rẻ mạt góp với bố mẹ để nuôi mình nuôi em.
Năm tháng dãi dầu giữa bến thuyền và kho muối, cô dần quen và lọt vào mắt
chàng trai họ Đặng, một chân sào (bây giờ gọi là thủy thủ) cũng làm thuê cho chủ
thuyền. Cùng cảnh ngộ, anh chị thương nhau, nguyện cùng nhau xây dựng tổ ấm.
Cha mẹ hai bên đều nghèo, nên đôi vợ chồng tự mình tạo dựng cơ ngơi, xây dựng
gia đình hạnh phúc. Được bà con nội ngoại đùm bọc, người giúp cây tre, cây xoan,
người mớ tranh, nắm lạt, anh chị dựng một gian nhà (một túp lều thì đúng hơn)
trên mảnh đất dăm thước gần dìa làng.
Hàng ngày chị vẫn ra bến sông đội muối, còn anh theo thuyền xuôi ngược,
có khi hàng tháng mới về nhà. Đôi vợ chồng trẻ sinh hạ vài ba lần phúc đức trời
chỉ cho được một mụn con trai đặt tên là Luôn, vận với tên cha là Xà, cũng là thầm
mong Luôn tránh được mọi tai ương.
Cậu bé Đặng Văn Luôn lớn dần lên trong sự yêu thương chăm bẵm của
người mẹ trẻ, sự lo lắng bồi hồi đến khắc khoải để giữ gìn giọt máu, giữ gìn một
mầm sống, một người con nối dõi tông đường cho dòng họ.
Năm tháng qua đi, anh Đặng Văn Luôn lớn lên thừa hưởng sức vóc của
người cha, trong sự mừng thầm của cả cha lẫn mẹ và sự vui mừng của cô, dì, chú,
bác…
Cách mạng tháng Tám thành công, cùng với sự đổi đời của dân tộc, gia đình
nhỏ bé của mẹ cũng được hưởng nhiều niềm vui. Ông đi thuyền, tuy vẫn là làm
thuê, nhưng đã có công đoàn bênh vực quyền lợi và ông không bị đối xử ngược đãi
như trước. Bà ở nhà tham gia tổ chức phụ nữ, được đi họp, dự mít tinh và học chữ,
ngang hàng với nam giới và với mọi người. Vui nhất là cậu thiếu niên Đặng Văn
Luôn đã có thể nối được nghề của cha. Luôn xuống thuyền làm bếp, mở đầu cuộc
đời làm thủy thủ.
Gia đình mẹ đáng lẽ được sống yên vui, hạnh phúc, nếu như thực dân Pháp
không trở lại xâm lược nước ta, rắp tâm bắt nhân dân ta phải trở lại cuộc đời nô lệ
một lần nữa. Đáp lời kêu gọi của Tổ quốc và của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “chúng ta
thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”, với
lòng yêu nước, sục sôi bầu nhiệt huyết của tuổi trẻ, anh Luôn cùng một số bạn bè
bỏ thuyền lên đất Hải Phòng tìm vào doanh trại bộ đội xin đầu quân. Không được
chấp thuận, các anh quay về đề nghị xã cho vào bộ đội địa phương. Ủy ban xã hết
sức ủng hộ và giúp đỡ các anh, giới thiệu các anh vào quân chủ lực của huyện Kiến
Thụy.
Dù thương con, mẹ vẫn vui vẻ động viên anh lên đường, dặn anh làm tròn
nhiệm vụ cho bằng anh bằng em và đem vinh dự về cho gia đình, cho cha mẹ. Các
anh là một trong những thanh niên đầu tiên của xã tình nguyện lên đường tòng
quân giết giặc.
Ngày các anh lên đường là ngày hội của toàn dân. Nhân dân đứng hai bên
đường vẫy chào tạm biệt những người con của quê hương. Các bác trong Ủy ban
kháng chiến hành chính xã, các bác lãnh đạo mặt trận Việt Minh bắt tay từng chiến
sĩ căn dặn và tặng mỗi anh một áo trấn thủ. Các mẹ, các chị em tặng quà. Các em
thiếu nhi đầu đội mũ ca nô, hàng ngũ chỉnh tề đánh trống ếch. Từng nhịp trống
vang lên, không khí thật là náo nức. Toàn dân, toàn xã tiễn đoàn quân vệ quốc là
con em của mình, đầu trần, chân đất lên đường đánh giặc.
Sau khi tiễn con lên đường, ông bà Xà chuẩn bị tản cư, thực hiện “vườn
không nhà trống” theo chủ trương tiêu thổ kháng chiến của Đảng và Chính phủ.
Chín năm kháng chiến gian khổ, sức ông yếu dần và qua đời. Vợ chồng người em
ruột của ông cũng lần lượt ra đi để lại đứa con gái mồ côi. Thương cháu, bà Ệp
nhận và làm người mẹ thứ hai của cháu.
Thương chồng, nhớ con, bà dồn hết tình thương cho cháu gái mà bà coi như
con, sớm hôm tần tảo nuôi cháu ăn học. Cô Gái (tên người cháu) lớn lên trong tình
thương yêu của bác, được chăm nom, học hành và được gọi đi công tác. Nhưng vì
lòng hiếu thảo, thương bác sống cơ đơn lúc tuổi già, cô đã xin về, sớm tối mẹ con
quấn quýt bên nhau.
Tháng 6 năm 1947, sau khi chiếm được thành phố Hải Phòng, Pháp nống ra
đánh chiếm các vùng xung quanh. Trong một trận chiến đấu ở làng Tiểu Trà - Đại
Đồng, anh Luôn đã anh dũng hy sinh, năm đó anh mới 18 tuổi. Trước lúc hy sinh,
anh dặn anh Quý, người bạn cùng tòng quân với mình “sống, chết tao quyết giữ
trận địa, nếu mày còn sống về báo lại cho gia đình tao biết”. Những tin tức này mãi
đến năm 1954 (sau hòa bình) mẹ mới được biết qua anh Quý, người bạn cùng nhập
ngũ được về phép kể lại.
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp toàn thắng, hòa bình được lập lại
trên miền Bắc, mẹ nhận được giấy báo tử của con, Ủy ban hành chính và các đoàn
thể địa phương tổ chức trọng thể lễ truy điệu liệt sĩ Đặng Văn Luôn, trao bằng Tổ
quốc ghi công và mọi chế độ gia đình liệt sĩ cho mẹ.
Là mẹ liệt sĩ, mẹ sống gương mẫu, cần cù lao động, tích cực tham gia các
công tác xã hội. Mẹ là một trong những xã viên của hợp tác xã làm muối, hội viên
Phụ nữ, hội viên Phụ lão và hội Bảo thọ, sống vui vẻ chan hòa với mọi người.
Đời sống xã viên HTX làm muối những năm kháng chiến chống Mỹ vô cùng
khó khăn, mẹ vui vẻ động viên mọi người chịu đựng, không kêu ca, đòi hỏi đãi
ngộ.
Đảng ủy, UBND, UBMTTQ và các đoàn thể địa phương quan tâm chăm sóc
mẹ. Ngoài việc thường xuyên thăm hỏi động viên, năm 1978, thấy nhà mẹ cũ nát,
xã đã xây cho mẹ ngôi nhà tình nghĩa. Do kinh phí hạn hẹp, ngôi nhà còn đơn sơ,
nhưng cũng phần nào an ủi mẹ khi tuổi già.
Mẹ đã thanh thản ra đi ngày 10 tháng 5 năm 1992, hưởng thọ 89 tuổi, chưa
được biết sau ba năm, ngày 28 tháng 3 năm 1995, mẹ được Nhà nước truy tặng
danh hiệu cao quý “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”.
Ngày 10 tháng 5 năm 1997, ngày giỗ lần thứ năm của mẹ, đoàn đại biểu
Đảng ủy, UBND, UBMTTQ, hội người cao tuổi xã Bàng La đến trước bàn thờ
thắp hương tưởng nhớ mẹ, nói lên lòng biết ơn đối với mẹ. Mẹ đã cống hiến người
con duy nhất, là giọt máu, nỗi ước mong, niềm hy vọng và bao nhiêu vất vả và
gian truân trong suốt cuộc đời cho kháng chiến, cho cách mạng, mọi người thầm
hứa noi gương anh Luôn, đi tiếp bước đường của anh, xây dựng địa phương ngày
càng giàu đẹp.



