Mẹ Việt Nam Anh hùng

Cuộc đời Mẹ Việt Nam anh hùng Bùi Thị Xê

Mẹ sinh ra trong một gia đình bần nông có truyền thống cách mạng. Từ thuở thiếu thời, Mẹ đã được nuôi dưỡng trong một gia đình giàu lòng yêu nước, nơi truyền thống cách mạng được hun đúc qua nhiều thế hệ. Truyền thống ấy đã được Mẹ tiếp nối bằng chính cuộc đời, bằng những việc làm và những hy sinh thầm lặng của mình cho cách mạng, cho quê hương, đất nước.

Quảng Trị15/08/2026Đoàn xã Bảo Lâm 3 (Bảo Lâm 3)3 lượt xem0 lượt chia sẻ
Cuộc đời Mẹ Việt Nam anh hùng Bùi Thị Xê

Mẹ Việt Nam Anh hùng Bùi Thị Xê sinh ngày 01 tháng 01 năm 1932, tại xã Hưng Nhượng, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre cũ, nay là xã Hưng Nhượng, tỉnh Vĩnh Long.

Mẹ sinh ra trong một gia đình bần nông có truyền thống cách mạng. Từ thuở thiếu thời, Mẹ đã được nuôi dưỡng trong một gia đình giàu lòng yêu nước, nơi truyền thống cách mạng được hun đúc qua nhiều thế hệ. Truyền thống ấy đã được Mẹ tiếp nối bằng chính cuộc đời, bằng những việc làm và những hy sinh thầm lặng của mình cho cách mạng, cho quê hương, đất nước.

Ngay từ khi còn trẻ, giữa những năm tháng đất nước còn chìm trong chiến tranh, Mẹ đã sớm thể hiện tấm lòng yêu nước và sự gắn bó với cách mạng. Mẹ đã nuôi dưỡng các cháu là con của anh trai mình như những người con. Hai người cháu được Mẹ chăm sóc, nuôi dưỡng bằng tình thương và trách nhiệm sau này đều đã anh dũng hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đó là liệt sĩ Bùi Nhứt, hy sinh năm 1968 và liệt sĩ Bùi Triệu, hy sinh năm 1974.

Hai người cháu được Mẹ chăm sóc, nuôi dưỡng lần lượt hy sinh khi tuổi đời còn trẻ, để lại những mất mát, đau thương trong gia đình. Những sự hy sinh ấy cũng là một phần trong hành trình đầy gian khổ và mất mát mà Mẹ đã trải qua trong suốt cuộc đời mình. Năm 1957, Mẹ lập gia đình tại quê nhà. Mẹ có 4 người con, gồm 2 trai và 2 gái. Bên cạnh việc chăm lo gia đình, nuôi dạy các con, Mẹ vẫn âm thầm tham gia các hoạt động phục vụ cách mạng.

Trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Mẹ làm giao liên, tiếp tế lương thực, thuốc men cho cách mạng; góp phần bảo đảm hậu cần, hỗ trợ cán bộ, bộ đội và lực lượng cách mạng hoạt động trong điều kiện vô cùng gian khổ.

Những công việc tưởng như bình dị ấy lại chứa đựng biết bao hiểm nguy. Mỗi chuyến giao liên, mỗi lần vận chuyển lương thực, thuốc men đều có thể phải đối mặt với sự kiểm soát, truy bắt của địch. Nhưng bằng lòng yêu nước, sự gan dạ, mưu trí và niềm tin son sắt vào cách mạng, Mẹ vẫn bền bỉ thực hiện công việc của mình.

Năm 1970, một biến cố đau thương xảy đến với cuộc đời Mẹ: chồng Mẹ – liệt sĩ Phan Văn Thơm – đã hy sinh.

Từ đây, Mẹ phải một mình gánh vác gia đình, nuôi dưỡng các con trong hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt. Mất đi người bạn đời, Mẹ phải chịu đựng nỗi đau của người vợ mất chồng, nhưng Mẹ không khuất phục trước hoàn cảnh.

Mẹ ở vậy, tiếp tục nuôi các con khôn lớn. Đáng trân trọng hơn, sau khi chồng hy sinh, Mẹ vẫn tiếp tục nuôi dưỡng, che chở bộ đội, giao liên hoạt động trong lòng địch. Không có tiếng súng nơi trận tuyến, không có những chiến công được ghi danh, nhưng Mẹ đã góp phần vào cuộc kháng chiến bằng chính sự hy sinh âm thầm và lòng dũng cảm của mình.

Tiếp nối truyền thống của gia đình, tháng 11 năm 1976, người con trai cả của Mẹ là bác Phan Văn Dân tham gia chiến trường K. Người con mà Mẹ đã mang nặng đẻ đau, nuôi dưỡng và trưởng thành đã tiếp bước cha và những người thân trong gia đình, lên đường thực hiện nhiệm vụ. Mẹ lại một lần nữa tiễn người thân của mình lên đường bảo vệ Tổ quốc, mang trong lòng niềm tin và mong ước ngày con trở về.

Đến tháng 3 năm 1978, cuộc đời Mẹ lại phải chịu thêm một mất mát lớn lao. Người con trai cả – đồng chí Phan Văn Dân – sau những tháng ngày thực hiện nhiệm vụ tại chiến trường K đã anh dũng hy sinh. Đối với Mẹ, đó là một mất mát không gì bù đắp được. Mẹ đã từng tiễn người chồng của mình về với đất mẹ, từng chứng kiến những người cháu mà Mẹ đã yêu thương, chăm sóc từ thuở nhỏ lần lượt hy sinh vì Tổ quốc. Nay, nỗi đau ấy lại một lần nữa hiện hữu khi người con trai cả của Mẹ cũng mãi mãi không trở về.

Ngày 31 tháng 3 năm 1978, con trai của mẹ - đồng chí Phan Văn Dân được công nhận là liệt sĩ. Sự ghi nhận ấy là sự tri ân của Tổ quốc đối với người con đã hiến dâng tuổi trẻ và cuộc đời mình cho đất nước. Nhìn lại cuộc đời Mẹ, những mất mát ấy nối tiếp nhau, những người thân yêu đã lần lượt hy sinh trong những năm tháng chiến tranh và khi thực hiện nhiệm vụ vì Tổ quốc.

Đằng sau những cái tên và những năm tháng ấy là biết bao nước mắt, biết bao nỗi đau của một người vợ, một người mẹ. Nhưng Mẹ vẫn kiên cường sống. Mẹ tiếp tục nuôi dưỡng những người con còn lại, chăm lo gia đình, gìn giữ tình thân và sống bằng nghị lực của một người phụ nữ đã trải qua quá nhiều mất mát.

Ngày 13 tháng 4 năm 1979, sự hy sinh của chồng Mẹ – liệt sĩ Phan Văn Thơm – được Nhà nước ghi nhận bằng Bằng Tổ quốc ghi công theo quyết định số 261 của Thủ tướng chính phủ. Đó là sự ghi nhận của Tổ quốc đối với người đã hy sinh, đồng thời cũng là sự tri ân đối với gia đình và những người thân đã chịu đựng những mất mát lớn lao vì sự nghiệp cách mạng.

Những đóng góp của Mẹ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước cũng được Đảng và Nhà nước ghi nhận. Ngày 06 tháng 3 năm 1987, Mẹ được tặng Huy chương Kháng chiến hạng Nhì theo Quyết định số 48-KT/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng, vì đã có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Phần thưởng cao quý ấy là sự ghi nhận đối với những đóng góp âm thầm nhưng bền bỉ của Mẹ trong những năm tháng đất nước còn chiến tranh.

Những năm tháng chiến tranh đã lùi xa, đất nước bước vào thời kỳ hòa bình, nhưng trong lòng Mẹ vẫn mang theo những ký ức không thể phai mờ về những năm tháng đã qua, về người chồng, người con và những người thân đã hy sinh vì Tổ quốc. Mẹ tiếp tục lặng lẽ sống, chăm lo cho gia đình, con cháu và chứng kiến quê hương, đất nước từng ngày đổi mới.

Năm 1999, Mẹ chuyển lên sinh sống tại xã Lộc Thành, nay là xã Bảo Lâm 3, tỉnh Lâm Đồng. Từ đó, nơi đây trở thành quê hương gắn bó với Mẹ trong những năm tháng cuối đời. Trên mảnh đất mới, Mẹ tiếp tục cuộc sống bình dị bên gia đình, con cháu; được bà con lối xóm yêu thương, đùm bọc và được cấp ủy, chính quyền địa phương quan tâm, chăm sóc.

Ngày 07 tháng 7 năm 2014, Mẹ được phong tặng danh hiệu cao quý “Bà mẹ Việt Nam Anh hùng” theo Quyết định số 1518/QĐ-CTN của Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Danh hiệu cao quý ấy là sự ghi nhận của Đảng, Nhà nước và Nhân dân đối với những hy sinh to lớn của Mẹ và gia đình.

Mẹ có chồng, con hy sinh vì Tổ quốc; bản thân Mẹ cũng đã có những đóng góp cho cách mạng trong những năm tháng kháng chiến. Danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng vì thế không chỉ là niềm vinh dự của riêng Mẹ mà còn là niềm tự hào của gia đình, dòng họ và quê hương.

Đặc biệt, mẹ ruột và mẹ chồng của Mẹ cũng đều được công nhận là Mẹ Việt Nam Anh hùng. Đó là một truyền thống cách mạng đặc biệt của gia đình, được tiếp nối qua những người phụ nữ bằng lòng yêu nước, sự hy sinh và cả máu xương của những người thân yêu.

Cuộc đời Mẹ đã đi qua gần một thế kỷ. Từ một cô gái trẻ trên quê hương Hưng Nhượng, Mẹ đã trở thành người vợ, người mẹ, người cô, người bà; trải qua chiến tranh, mất chồng, mất cháu, mất con; rồi chứng kiến quê hương, đất nước từ chiến tranh bước vào hòa bình, thống nhất và phát triển.

Vào lúc 13 giờ 30 phút ngày 10 tháng 8 năm 2026, Mẹ Việt Nam Anh hùng Bùi Thị Xê đã trút hơi thở cuối cùng, thanh thản về với cõi vĩnh hằng, hưởng thượng thọ 95 tuổi.

95 năm cuộc đời, Mẹ đã trải qua biết bao thăng trầm. Mẹ đã sống một cuộc đời bình dị nhưng cao đẹp; dành tuổi trẻ cho quê hương, dành tình thương và sự hy sinh cho các con, các cháu, đồng thời chịu đựng những nỗi đau mất mát mà không một người mẹ nào mong muốn.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn