Bài viết

Cuộc đời người lính đi qua một thời đại

“Đạn bắn như mưa, địch thả bom, phun thuốc cháy để tìm quân ta. Nó nghi ở đâu có quân ta thì đốt, chặt hết rừng để tìm ra mình. Khi ấy chỉ còn cách chui xuống hầm, mà bom đánh trúng hầm thì chỉ xác định cùng chết”,

Đà Nẵng18/08/2026Đoàn xã Đắk Mil (Đắk Mil)18 lượt xem2 lượt chia sẻ
Cuộc đời người lính đi qua một thời đại

Đầu năm 1968, khi mới 18 tuổi, chàng thanh niên Nguyễn Trung Kiên quê Hải Hậu, Nam Định (nay thuộc xã Hải Hưng, tỉnh Ninh Bình) xung phong tham gia Công ty Xây lắp Nội thương 1 Vĩnh Tuy - Hà Nội. Nhưng mới chỉ học chính trị được 2 tuần, ông nhận được lệnh tập trung sang quân đội, sau đó ông bước vào đợt huấn luyện cấp tốc ở Sơn Tây. Khóa huấn luyện vốn kéo dài khoảng sáu tháng, nhưng mới được bốn tháng, ông đã nhận lệnh rút quân để bổ sung vào chiến trường.

Ngày 7/8/1968, ông đặt chân vào chiến trường Quảng Trị, thuộc đơn vị C6, Trung đoàn 6, Sư đoàn 304. Cũng trong ngày ấy, chàng lính mới 18 tuổi bước vào trận đánh đầu tiên tại căn cứ Làng Vây.

Trận đánh mở màn ấy trở thành ký ức không thể nào quên. Sau 3 giờ đồng hồ chiến đấu, đơn vị hơn 100 người khi rút về chỉ còn khoảng 40 chiến sĩ. Những lo sợ ban đầu nhanh chóng qua đi, nhường chỗ cho sự chai sạn và bản lĩnh của người lính chiến.

Gần ba năm ở Quảng Trị, từ năm 1968 đến năm 1970, đến đầu năm 1971 ông nhận lệnh về kho. Nghĩ được rời chiến tuyến, ông rất vui. Trong suy nghĩ của người lính trẻ khi ấy, về kho chắc sẽ an toàn và nhẹ nhàng hơn. Sau đó, ông Kiên được điều động về kho quân khí giáp ranh tỉnh Savannakhet (Lào). Dù công việc ở kho của ông là vận chuyển đạn bằng sức người, gùi thùng đạn có phần an toàn hơn chiến tuyến, nhưng nỗi gian khổ vẫn bám riết trên từng tuyến đường rừng. Sáng sớm ăn nắm cơm, gùi thùng đạn, vận chuyển từng thùng trên đường rừng từ sáng đến lúc về trời đã tối.

“Đạn bắn như mưa, địch thả bom, phun thuốc cháy để tìm quân ta. Nó nghi ở đâu có quân ta thì đốt, chặt hết rừng để tìm ra mình. Khi ấy chỉ còn cách chui xuống hầm, mà bom đánh trúng hầm thì chỉ xác định cùng chết”, ông kể.

Điều kiện khi ấy chỉ là "Ăn rừng, ngủ rừng" quân ta khác hoàn toàn với tụi Việt Nam Cộng hòa, người lính trên chiến trường chết không chỉ vì tử trận trên chiến trường mà còn vì sốt rét, sốt ác tính, đã làm quân ta ít lại càng ít thêm. Trong những năm tháng ấy, ông dần quen với chiến tranh. Trận thứ hai, trận thứ ba rồi những trận sau nữa, nỗi sợ chết không còn giống như ngày đầu.

Không phải ông không ham sống. Ai cũng ham sống nhưng khi đã bước vào chiến trường, người lính phải xác định một điều: “Ngày đi thì có, ngày về thì không.”

Trong ba lô của người lính khi ấy không có nhiều thứ. Một bộ quần áo mặc trên người cùng nằm cơm và bao tử sĩ được chuẩn bị sẵn.

***

Giữa những ngày tháng khốc liệt ấy, người lính Nguyễn Trung Kiên vẫn có những phút giây rất đời thường. Có thời gian, ông thường đến những xác máy bay, trực thăng bị bắn rơi, cặm cụi dùng tua vít tháo những bóng đèn điện tử, bỏ vào ba lô. Ông cứ gom dần, gom mãi, đến khi được gần nửa ba lô. Đồng đội thấy vậy thì trêu:

“Mày lấy cái này về làm gì? Có biết mày có về được với mẹ không mà lấy?”

Chàng lính trẻ ấy chỉ hồn nhiên cười và tập trung với công việc mình yêu thích.

***

Sau những năm tháng ở kho đạn, ông tiếp tục chiến đấu tại nhiều địa bàn. Từ khu vực giáp tỉnh Savannakhet của Lào, ông hành quân đến những vùng chiến sự ở Quảng Nam, qua ngã ba Đông Dương – nơi “một con gà gáy cả ba nước cùng nghe”. Năm 1975, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân diễn ra với khí thế thần tốc. Ông thuộc mũi tiến công - mũi 66 thuộc Sư đoàn 304, Quân đoàn 2 tiến đánh vào Dinh Độc Lập. Từ Quảng Nam, đơn vị tiến về Đà Nẵng, rồi tiếp tục vào Nha Trang và tiến về Sài Gòn.

Sau những tháng ngày chỉ biết đến đường rừng và đôi chân hành quân, hình ảnh những người lính từ miền Bắc vào chiến trường trên những chuyến xe cơ giới khiến ông Kiên không khỏi hào hứng. Những chiếc xe nối dài trên đường không chỉ rút ngắn hành trình của người lính, mà còn cho ông cảm nhận rõ hơn sức mạnh chi viện từ hậu phương đang dồn về chiến trường trong những ngày tổng tiến công. “Thần tốc, thần tốc, táo bạo, táo bạo hơn nữa!”- Hiệu lệnh trên mũ của người lính Miền Bắc lúc tiến đánh ở dinh độc Lập. Nhịp tiến quân cũng nhanh như chính khát vọng ngày đất nước thống nhất.

Khi ngày 30/4/1975 đến, niềm vui hòa bình không thể diễn tả bằng lời. Những người lính đã khóc. Họ khóc vì mừng đất nước được giải phóng, nhưng cũng khóc vì nhận ra mình đã may mắn sống sót.

Bởi trong những ngày cuối cùng của chiến tranh, vẫn có những người đồng đội không kịp nhìn thấy ngày toàn thắng. Có người chiến đấu sáu, bảy năm ở chiến trường mà vẫn sống, nhưng chỉ vài ngày trước ngày giải phóng lại hy sinh.

a2.jpg

Nhìn lại cuộc đời quân ngũ, ông Kiên có hơn 10 năm trong quân đội, trong đó 6 năm 8 tháng ở chiến trường miền Nam , một năm chiến đấu tại Campuchia và những năm tháng tại các mặt trận khác.

Năm 1978, ông sang Campuchia làm nhiệm vụ. Năm 1979 trở về, tiếp tục đóng quân tại khu vực Long Bình - Biên Hòa. Đến năm 1990, ông ra quân.

Nhưng chiến tranh đã để lại trong ông những dấu ấn không thể xóa nhòa. Trong số khoảng 200 người cùng ông rời công ty năm ấy để bước vào quân đội, đến ngày đất nước thống nhất chỉ còn 36 người.

 “Trong cuộc đời người lính, hầu như gian khổ và sống chết lúc nào cũng cận kề bên tai”, ông nói.

Thế nhưng khi trở về với cuộc sống đời thường, trong ông không chỉ có nỗi buồn. Đó còn là niềm tự hào.

Ông bảo, đất nước lúc ấy như vậy. Nếu mình không đi giữ nước thì ai sẽ đi? Vì thế, khi có lệnh điều động vào quân đội, ông và những thanh niên cùng thời sẵn sàng chấp hành nhiệm vụ.

Không mơ ước nhiều. Không biết ngày mai ra sao. Sống được ngày nào thì biết ngày ấy.

Năm 1994, ông trở lại thăm đồng đội, thăm đơn vị. Có lẽ mỗi lần trở về những nơi từng đi qua, người lính năm xưa lại nhìn thấy một phần tuổi trẻ của mình ở đó - giữa những cánh rừng, những con đường mòn và những người đồng đội đã mãi mãi nằm lại.

a1.jpg

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn