Cuộc đời ông Điền – từ người thanh niên quê biển chân chất đến người chiến sĩ du kích kiên trung
Một sáng cuối đông, mưa phùn lất phất bay, chúng tôi đặt chân đến nhà ông Điền- một ngôi nhà nhỏ ở thôn Hòa An, xã Tam Anh. Trong ngôi nhà ấy dường như không có thứ gì đắt tiền, thứ đắt tiền, quý giá nhất với ông chắc có lẽ là những tấm huân chương về sự nghiệp cách mạng chống Mỹ cứu nước mà ông treo trên mảng tường đã tróc sơn.
Ông Điền sinh năm 1937, tại một làng quê nghèo bên tiếng sóng biển hiền hòa. Thuở nhỏ, ông là đứa trẻ chân trần chạy trên cát nóng, lớn lên giữa những mùa gió Lào khô khốc, lam lũ cùng cha mẹ trên những luống khoai, mảnh lúa. Phận đời nghèo khó khiến ông sớm rèn nên vóc dáng khỏe mạnh, đôi mắt sáng và sự cứng cỏi của một người con miền Trung.
Năm 1961, ông cưới bà – người con gái đồng làng có nụ cười dịu như nắng sớm. Hạnh phúc giản đơn: một mái nhà lợp tranh, hai đứa con lần lượt ra đời, tiếng cười trẻ thơ xua bớt nhọc nhằn của cuộc sống thời loạn lạc. Ông chỉ mong yên bình, nhưng lịch sử không cho người dân quê ông cái quyền đứng ngoài bão tố.
Năm 1965, khi giặc Mỹ bắt đầu đánh chiếm Đà Nẵng, làng xóm cháy đỏ những trận càn quét, tiếng đạn pháo xé trời suốt đêm. Trước cảnh quê hương bị dày xéo, ông Điền gia nhập lực lượng du kích xã Kỳ Hà.
Nhiệm vụ của ông thầm lặng mà hiểm nguy: làm giao liên, báo tin cho cấp trên, dẫn đường và vận chuyển người bị thương qua những lối mòn rừng núi. Ông thuộc từng bụi tre, từng bờ ruộng, từng con đường có dấu chân giặc. Đêm, ông đi. Ngày, ông ẩn mình giữa xóm làng, hóa thành bất cứ người dân nào để qua mặt quân địch. Ông không phải là người cầm súng ra chiến trường nhưng chính nhờ có những con người như ông đã góp phần làm nên một chiến thắng Núi Thành vang dội, mở ra phong trào “Tìm Mỹ mà đánh, tìm ngụy mà diệt” trên chiến trường miền Nam.
Nhưng chiến tranh luôn có lúc tàn nhẫn hơn lòng người tưởng. Năm 1967, trong một chuyến làm nhiệm vụ, khi đang đi tuần, ông và đồng đội rơi vào ổ phục kích và bị bắt. Ban đầu, chúng dụ dỗ ông bằng những lời ngon ngọt. Chúng hứa nếu ông khai ra căn cứ và hầm bí mật của cán bộ chúng sẽ cho anh được trở về với vợ con, được ăn ngon mặc đẹp, sống cả đời sung sướng. Thế nhưng chúng làm gì có thể dụ dỗ được ông, bởi ông đã tự nhủ với lòng rằng: “Thể xác chết chứ linh hồn không chết”. Ông vẫn nhớ như in lời hứa với nhân dân trước khi ra đi: “Thà hi sinh chứ nhất quyết không chịu làm nô lệ.”
Khi không dụ được, chúng thay đổi bộ mặt. Lệnh đưa ông ra nhà tù Phú Quốc – nơi mà những hình phạt dã man đã trở thành bóng đêm đè lên sinh mạng con người.Ở Phú Quốc, chúng tra khảo, đánh dập ông dã man bằng đủ mọi cách: đòn gánh, roi điện, bỏ đói,…. Thân thể ông rách nát, nhưng tinh thần thì không lung lay. Ông nghiến răng chịu đựng. Ông kể rằng, ở trong đó bọn chúng cho ăn những thứ mà con người khó tài nào mà nuốt nổi. Không ăn thì đói mà ăn thì có hôm bị đau bụng dữ dội. Không những thế, nhiều lúc, tiếng rên la của những người tù bị tra tấn vọng đến như lời nhắc nhở: chỉ cần một người chịu khuất phục, sẽ có biết bao người phía sau bị cuốn vào hiểm họa. Vừa kể, đôi mắt ông vừa nhìn về phía xa xăm.
Trong khi ông ở tù, người em trai của ông-chiến sĩ Đỗ Xuân Trung- không may cũng hi sinh, vợ con ông ở quê cũng không yên. Bởi ông làm du kích, bà và đứa con tra cũng bị địch bắt, nhốt vào trại giam vì tội “che giấu cộng sản”. Chúng tra hỏi, dọa dẫm, thậm chí bỏ đói. Nhưng giống như chồng, bà im lặng không hé răng nửa lời. Một năm sau, không moi được gì, chúng thả bà về – gầy yếu, đôi mắt thâm quầng vì lo cho chồng và hai đứa con nhỏ. Bà không biết ông còn sống hay đã chết, nhưng ngày nào cũng thắp nhang khấn trời đất phù hộ cho ông trở về.
Năm 1973, sau những đợt trao trả tù binh, ông Điền được tự do. Đứng trước gương mặt vợ con, ông không nói được gì, chỉ ôm họ thật chặt. Người đàn ông từng cao lớn, khỏe mạnh nay gầy rộc, tóc điểm bạc, lưng hơi còng như già thêm vài chục tuổi. Trên người đầy vết thương cũ mới chằng chịt – dấu tích của những tháng ngày trong địa ngục trần gian. Nhưng đôi mắt ông vẫn sáng – ánh sáng của người không khuất phục.
Với những hy sinh và công hiến thầm lặng ấy, ông được Nhà nước trao tặng Huân chương Kháng chiến hạng Nhì; Kỷ niệm chương Chiến sĩ Cách mạng bị địch bắt tù, đầy và nhiều huy chương cao quý.
Cuộc đời ông Điền – từ người thanh niên quê biển chân chất đến người chiến sĩ du kích kiên trung – là minh chứng cho sức sống bền bỉ và lòng yêu nước của biết bao con người bình dị trong những năm tháng gian khổ. Ông không chọn con đường lớn lao, ông chỉ làm điều mà lương tâm mách bảo: bảo vệ quê hương, bảo vệ gia đình, giữ trọn một tấm lòng son với cách mạng. Dù trải qua tra tấn, tù đày, mất mát và cả những năm tháng tưởng như kiệt quệ, ông vẫn sống trọn vẹn, vẫn tin vào điều đúng đắn, vẫn cống hiến hết mình cho Tổ quốc.
Hôm nay, khi nhìn ông, người ta không chỉ thấy một người lính đã từng đi qua chiến tranh, mà còn thấy một biểu tượng của sự kiên cường, của lòng trung nghĩa và sự hy sinh lặng lẽ. Ông đã dạy cho chúng ta bài học về niềm tin, sự bền gan và phẩm cách của một con người không bao giờ khuất phục trước bạo tàn.



