Khác

CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP BẤT KHUẤT CỦA ANH HÙNG DÂN TỘC NGUYỄN TRUNG TRỰC

An Giang08/06/2026PHAN LĂNG THỂ ĐIỆP (xã Mỹ Hòa Hưng)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam vào nửa sau thế kỷ XIX, phong trào kháng Pháp ở Nam Kỳ đã ghi dấu bước chân của biết bao anh hùng nghĩa sĩ xả thân vì nước. Giữa lòng dải đất miền Tây sông nước, Nguyễn Trung Trực nổi lên như một biểu tượng rực rỡ của tinh thần yêu nước bất khuất, một vị anh hùng áo vải với những chiến công hiển hách làm rung chuyển lòng địch và câu nói bất hủ còn vang vọng mãi đến muôn đời sau.

Nguyễn Trung Trực sinh năm 1838 tại làng Bình Nhựt, huyện Cửu An, phủ Tân An, nay thuộc xã Thạnh Đức, huyện Bến Lức, tỉnh Long An. Tên khai sinh của ông là Nguyễn Văn Lịch, thuở nhỏ còn được gọi là Chơn. Sinh ra và lớn lên trong một gia đình làm nghề chài lưới vùng sông nước, ông sớm rèn luyện được sức khỏe dẻo dai, tính cách ngay thẳng và lòng thương dân sâu sắc. Khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược Nam Kỳ, chứng kiến cảnh nước mất nhà tan, nhân dân lầm than dưới gót giày viễn chinh, người thanh niên yêu nước ấy đã không ngần ngại gác lại cuộc sống bình dị để đi theo tiếng gọi của non sông, chiêu mộ nghĩa binh đứng lên chống giặc.

Sự nghiệp cứu nước của Nguyễn Trung Trực gắn liền với những chiến công vang dội, khiến kẻ thù phải khiếp sợ và kính nể. Chiến công đầu tiên và cũng là một trong những mốc son chói lọi nhất của ông là trận đốt cháy tàu chiến L'Espérance (Hy Vọng) của Pháp trên dòng sông Nhựt Tảo vào ngày mười tháng mười hai năm 1861. Bằng mưu trí và lòng dũng cảm, ông cùng các nghĩa quân đã ngụy trang thành thuyền đám cưới để tiếp cận con tàu hiện đại bậc nhất của địch bấy giờ, bất ngờ tấn công và phóng hỏa thiêu rụi chiến hạm này. Chiến thắng Nhựt Tảo không chỉ bẻ gãy một mũi nhọn đường thủy của Pháp mà còn giáng một đòn mạnh mẽ vào uy thế của quân xâm lược, làm nức lòng nhân dân lục tỉnh.

Sau hiệp ước Nhâm Tuất năm 1862, triều đình nhà Nguyễn cắt ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ cho Pháp và lệnh cho Nguyễn Trung Trực triệt binh về miền Trung. Tuy nhiên, lòng yêu nước và ý chí kháng chiến không cho phép ông bỏ rơi đồng bào. Ông tiếp tục ở lại Nam Bộ, chuyển địa bàn hoạt động sang vùng Hà Tiên, Rạch Giá để xây dựng căn cứ mới. Tại đây, vào đêm mười sáu tháng sáu năm 1868, Nguyễn Trung Trực lại một lần nữa lập nên kỳ tích khi dẫn quân đánh úp đồn kiên cố của Pháp ngay tại trung tâm tỉnh lỵ Rạch Giá. Trận đánh diễn ra nhanh chóng, xuất thần, tiêu diệt tên tỉnh trưởng cùng nhiều binh lính Pháp, giúp nghĩa quân làm chủ thị xã trong vài ngày. Đây là lần đầu tiên lực lượng nghĩa quân yêu nước đánh sập được một cơ quan đầu não của địch ở tỉnh lỵ.

Sau chiến thắng Rạch Giá, thực dân Pháp tập trung lực lượng càn quét quy mô lớn nhằm tiêu diệt bằng được đội nghĩa quân. Để bảo toàn lực lượng và nhân dân, Nguyễn Trung Trực phải rút ra đảo Phú Quốc lập căn cứ. Quân Pháp đã dùng mọi thủ đoạn đê hèn, từ phong tỏa đảo đến bắt giữ mẹ của ông cùng nhiều người dân vô tội để uy hiếp tinh thần. Trước tình thế hiểm nghèo, không muốn nhân dân và gia đình phải đổ máu thêm vì mình, Nguyễn Trung Trực đã tự ra nộp mình cho giặc vào tháng mười năm 1868. Kẻ địch vừa nể phục vừa lo sợ tài năng của ông nên đã ra sức mua chuộc, dụ dỗ ông đầu hàng để đổi lấy chức tước, giàu sang. Thế nhưng, người anh hùng ấy đã khảng khái khước từ và để lại một câu nói lưu danh thiên cổ trước mặt tên quan Pháp rằng tây phương khi nào nhổ hết cỏ nước Nam thì mới hết người Nam đánh Tây.

Ngày hai mươi bảy tháng mười năm 1868, thực dân Pháp đem Nguyễn Trung Trực ra hành quyết tại chợ Rạch Giá. Khi bước lên pháp trường, ông vẫn giữ vững phong thái ung dung, hiên ngang của một bậc trượng phu, đón nhận cái chết vì đại nghĩa ở tuổi ba mươi.

Cuộc đời của anh hùng Nguyễn Trung Trực tuy ngắn ngủi nhưng sự nghiệp cứu nước của ông đã để lại một trang sử vàng chói lọi cho dân tộc. Sự hy sinh của ông không chỉ khẳng định tinh thần bất khuất của người dân Nam Bộ nói riêng và nhân dân Việt Nam nói chung trước thế lực ngoại xâm, mà còn là ngọn đuốc soi đường cho các thế hệ mai sau về lòng yêu nước và ý chí tự lực tự cường. Ngày nay, đền thờ ông được lập ở nhiều nơi khắp vùng đồng bằng sông Cửu Long, và tên của ông được đặt cho nhiều ngôi trường, con đường lớn, như một minh chứng cho thấy hình ảnh người anh hùng áo vải sông Nhựt Tảo vẫn luôn sống mãi trong lòng lòng ngực, trong niềm tự hào sâu sắc của toàn thể nhân dân Việt Nam.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn