Bài viết

Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Thượng tướng, AHLLVTND Hoàng Cầm

Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Thượng tướng, AHLLVTND Hoàng Cầm

Lâm Đồng14/08/2026Trinh Thông (Bắc Ruộng)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Thượng tướng Hoàng Cầm là tấm gương sáng để đồng bào, cán bộ, chiến sĩ cả nước kính trọng, yêu quý, học tập và noi theo. Những cống hiến to lớn, đặc biệt xuất sắc của Thượng tướng luôn sống mãi với non sông, đất nước, trong lòng nhân dân và bạn bè quốc tế.

Thượng tướng Hoàng Cầm (bí danh: Năm Thạch), tên thật là Đỗ Văn Cầm, sinh năm 1920, dân tộc Kinh, quê xã Sơn Công, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội.



Thượng tướng Hoàng Cầm (1920-2013).

Xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo, năm 12 tuổi, ông mồ côi cả cha, mẹ. Năm 17 tuổi, ông phải bỏ làng lên Hà Nội làm thuê kiếm sống qua ngày rồi đi phu làm đường cho chủ người Pháp với cảnh đời cơ cực, lầm than không biết đến ngày mai. Năm 21 tuổi, ông bị bắt làm lính khố xanh đồn trú ở Lai Châu, tận mắt chứng kiến sự hà hiếp, bóc lột của thực dân, ông đã bỏ ngũ và trốn về Hà Nội. Khi Nhật đảo chính Pháp, được sự vận động của cán bộ Việt Minh, ông đã tham gia Đoàn Thanh niên Cứu quốc Hà Nội với tên mới là Hoàng Cầm.

Tháng 8/1945, ông nhập ngũ vào Trung đoàn 97, sau đó tham gia đội hình Chi đội 90 Sơn La (Trung đoàn 148) chiến đấu trên địa bàn các tỉnh Tây Bắc và biên giới Việt – Lào, trải qua các chức vụ từ Tiểu đội trưởng đến Đại đội trưởng, Chính trị viên Đại đội. Đặc biệt ông vinh dự được tham gia lực lượng bảo vệ Lễ ra mắt Chính Phủ và Bác Hồ đọc tuyên ngôn Độc Lập ngày 2/9/1945. Tháng 7/1947, ông về hoạt động ở Mộc Châu (Sơn La), là Đại đội trưởng Đại đội 250 tổ chức đơn vị phục kích quân Pháp tiến công ở Mộc Châu (ngày 28/7/1947) giành thắng lợi. Trong trận đánh này, ông bị thương nặng, sau được tặng thưởng huân chương Quân công hạng Ba.



Đồng chí Hoàng Cầm những năm ở chiến khu Việt Bắc.

Giữa năm 1948, ông là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 90, Trung đoàn 148 xây dựng cơ sở ở Đà Bắc; đầu năm 1949 được điều về Trung đoàn 209 (Đoàn Sông Lô) giữ chức Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 130; tham gia Chiến dịch Biên giới 1950, đánh trận mở đầu tiêu diệt cụm cứ điểm Đông Khê. Tại mặt trận này, ông được gặp Bác để báo cáo và nghe Bác chỉ thị dặn dò. Cuối năm 1950, ông giữ chức Trung đoàn phó, sau đó Trung đoàn trưởng Trung đoàn 209, Đại đoàn 312.

Năm 1954, tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử, ông đã chỉ huy đơn vị phối hợp tiến công, tiêu diệt địch ở cứ điểm Him Lam; nhận lệnh truy kích vào khu trung tâm Điện Biên Phủ. Trong những ngày cuối cùng của chiến dịch, ông đã nhanh chóng tổ chức lực lượng đột phá vào Sở Chỉ huy, bắt sống Tướng Đờ Cát-xtơ-ri, góp phần quyết định giành thắng lợi Chiến dịch Điện Biên Phủ, kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc. Ông cùng Ban Chỉ huy Trung đoàn tiếp nhận sự đầu hàng và trực tiếp hỏi cung Tướng Đờ Cát-xtơ-ri. Sau chiến dịch ông được Bộ Chỉ huy mặt trận cử làm trưởng đoàn chiến sĩ thi đua Điện Biên về báo cáo với Đảng, Chính phủ và Bác Hồ. 

Tháng 9/1954, ông giữ chức Tư lệnh kiêm Chính ủy Sư đoàn 312. Từ năm 1960 – 1961, ông là học viên Học viện quân sự cao cấp Nam Kinh - Trung Quốc.

Tháng 1/1965, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh trực tiếp đề xuất với trên điều đồng chí Hoàng Cầm cùng đồng chí Trần Độ vào Chiến trường B giúp xây dựng khối chủ lực Miền tạo thành các quả đấm chủ lực mạnh có khả năng đánh lớn, thắng lớn. Đồng chí làm Phái viên Tác chiến Bộ giữ chức Tham mưu phó đến Tham mưu trưởng/ Bộ Tư lệnh Miền. Trong Chiến dịch Phước Long - Đồng Xoài, ông là Phó Tư lệnh Bộ Chỉ huy chiến dịch, trực tiếp chỉ huy chiến dịch giành thắng lợi; chiến thắng này đã khẳng định vị trí, vai trò của bộ đội chủ lực, tạo cơ sở cho các giai đoạn xây dựng các sư đoàn chủ lực sau này.



Đại tướng Nguyễn Chí Thanh giao nhiệm vụ cho đồng chí Hoàng Cầm tại Bộ Tư lệnh Miền, Chiến khu D, tháng 3/1965.

Ngày 2/9/1965, Sư đoàn 9 (Công trường 9) thành lập, trên cương vị Tư lệnh Sư đoàn, ông đã chỉ huy đơn vị đánh nhiều trận với quân viễn chinh Mỹ và chủ lực Ngụy, giành thắng lợi vang dội như: Đất Cuốc, Bàu Bàng, Dầu Tiếng, Cần Lê, Bông Trang – Nhà Đỏ, Gian-xơn xity…, thể hiện tinh thần chủ động, nhạy bén, mưu trí, sáng tạo, quyết đoán, chỉ huy kiên quyết. Trong đó, trận vận động tập kích cụm quân Mỹ thuộc Sư đoàn Anh cả đỏ (Sư đoàn bộ binh 1 Mỹ) ở Bàu Bàng giành thắng lợi là trận đánh Mỹ đầu tiên cấp Sư đoàn đã khẳng định và củng cố niềm tin thắng Mỹ trên toàn chiến trường, bổ sung kinh nghiệm, cách đánh và quyết tâm thắng Mỹ.

Ngày 20/7/1974, Quân đoàn 4 (Binh đoàn Cửu Long) được thành lập, ông được bổ nhiệm làm Tư lệnh trên cương vị này ông đã thể hiện tinh thần, sáng tạo, quyết đoán trong chỉ đạo, tổ chức trận đánh đầu tiên, truyền thống ra quân thắng lợi của Quân đoàn 4 với chiến dịch Đường 14 - Phước Long; cùng quân dân địa phương giải phóng hoàn toàn tỉnh Phước Long, mở ra cục diện mới trong tạo thế và lực cho chiến trường Miền Nam, giúp Bộ Chính trị điều chỉnh quyết tâm chiến lược giải phóng Miền Nam.



Đồng chí Hoàng Cầm - Tư lệnh Quân đoàn 4 giao nhiệm vụ cho Sư đoàn trưởng Sư đoàn 7  trước giờ tiến vào giải phóng Sài Gòn trong chiến dịch Hồ Chí Minh, ngày 26/4/1975.

Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, ông chỉ huy các đơn vị của Quân đoàn 4 tiến công địch, mở toang “Cánh cửa thép” Xuân Lộc, tạo lập bàn đạp cho Chiến dịch Hồ Chí Minh từ phía Đông. Lực lượng Quân đoàn đã đập tan các tuyến đề kháng, phòng ngự Trảng Bom, Hố Nai, sân bay Biên Hòa, tạo ra thế trận mới có ý nghĩa chiến lược cho các binh đoàn chủ lực và các lực lượng vũ trang cánh quân hướng Đông trong trận quyết chiến Tổng tiến công chiến lược, tiến vào giải phóng Sài Gòn, trưa ngày 30/4/1975, kết thúc Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn Miền Nam, thống nhất Đất nước.

Hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu, Quân đoàn được giao nhiệm vụ quân quản, ông được cử làm Phó Chủ tịch Ủy ban Quân quản. Ông đã cùng Đảng ủy, Bộ Tư lệnh, cán bộ, chiến sỹ Quân đoàn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, để lại ấn tượng tốt đẹp trong lòng nhân dân thành phố.

Đất nước vừa được độc lập, thống nhất chưa lâu, chiến tranh ở Biên giới Tây Nam xảy ra. Ông lại cùng Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân đoàn và các đơn vị tiếp tục hành quân chiến đấu bảo vệ đồng bào và từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc trên dải biên giới từ Tây Ninh đến Kiên Giang. Hơn một năm chiến đấu liên tục, Quân đoàn 4 đã cùng các đơn vị đánh bại cuộc chiến tranh xâm lấn của địch, giúp đỡ hàng vạn người dân Campuchia lánh nạn, bảo vệ vững chắc biên cương Tổ quốc.

Đáp lời kêu gọi khẩn thiết của Mặt trận Đoàn kết Dân tộc cứu nước Campuchia, Quân đoàn 4 do Tư lệnh Hoàng Cầm chỉ huy, được giao nhiệm vụ phối hợp với các đơn vị bạn tiến công địch trên hướng chủ yếu từ hướng Đông Nam vào giải phóng Phnôm Pênh. Trước tình hình thế giới và những khó khăn trên chiến trường, khi các mũi tiến công của ta tiến chậm so với dự kiến, ông đã phát huy kinh nghiệm chỉ huy trong tiến công trung tâm Mường Thanh ở Điện Biên Phủ và tiến vào Dinh Độc Lập trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, kịp thời điều chỉnh kế hoạch tác chiến, tập trung lực lượng, đột phá mạnh, thần tốc tiến công, đập tan các tuyến phòng thủ, các ổ đề kháng của địch, giải phóng thủ đô Phnôm Pênh, lúc 11h30, ngày 07/01/1979, trước một ngày so với kế hoạch của trên; tiếp tục truy quét tàn quân địch, giải phóng và cứu nhân dân Campuchia thoát khỏi thảm hoạ diệt chủng của bọn phản động Pôn Pốt – Iêng xari, đem lại sự hồi sinh cho đất nước Campuchia.

Từ tháng 2/1981 - 3/1982, ông giữ chức vụ Phó Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia; từ tháng 4/1982 - 8/1987 là Tư lệnh Quân khu 4; tháng 9/1987 về Tổng Thanh tra Quân đội; Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa IV, V, VI; Đại biểu Quốc hội khóa VII; được phong hàm cấp Thượng tá (8/1958), Đại tá (11/1960), Thiếu tướng (4/1974), Trung tướng (4/1980), Thượng tướng (12/1984). Tháng 11/1992, ông được nghỉ hưu tại thành phố Hồ Chí Minh; mất ngày 19/8/2013.

 

Là một Đảng viên trung kiên, một trong những chiến sỹ tiên phong, kiên quyết đấu tranh bảo vệ Đảng, bảo vệ thành quả cách mạng. Dù trong hoàn cảnh nào ông cũng luôn tỏ rõ bản lĩnh chính trị vững vàng, ý thức tổ chức kỷ luật cao; là một cán bộ “quân sự - chính trị vẹn toàn”, luôn chấp hành nghiêm túc nguyên tắc lãnh đạo của Đảng, luôn coi trọng công tác Đảng, công tác chính trị, chăm lo xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ, đội ngũ Đảng viên.

Những đóng góp của cố Thượng tướng Hoàng Cầm đã góp phần làm cho trang sử truyền thống hào hùng của Quân đoàn 4 cũng như của Quân đội ta sáng ngời bản chất anh hùng cách mạng trong suốt chặng đường xây dựng, chiến đấu và trưởng thành. Tên tuổi, thành tích và chiến công xuất sắc của đồng chí đã được các thế hệ cán bộ, chiến sỹ và nhân dân noi gương và học tập.

Với những thành tích và cống hiến xuất sắc qua các cuộc kháng chiến, đồng chí được tặng thưởng Huân Chương Hồ Chí Minh; Huân chương Kháng chiến hạng Nhất; Huân chương Quân công Nhất, Nhì, Ba; Huân chương Quân công giải phóng hạng Nhất; Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Nhì; Huân chương Chiến sĩ giải phóng Nhất, Nhì, Ba; Huân chương Chiến sĩ vẻ vang Nhất, Nhì, Ba; Huân chương Quân kỳ Quyết thắng; Huy hiệu 65 năm tuổi Đảng và nhiều phần thưởng cao quý khác. Ngày 07/01/2022, Nhà nước truy tặng danh hiệu “Anh hùng LLVTND” cho cố Thượng tướng Hoàng Cầm./.                      


Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn