CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA ĐỒNG CHÍ TÔN ĐỨC THẮNG
Nguyễn Vũ Hà Linh

Tôn Đức Thắng, bí danh Thoại Sơn, sinh ngày 20 tháng 8 năm 1888 tại Cù lao Ông Hổ, làng An Hòa, tổng An Phú, hạt Long Xuyên (nay thuộc xã Mỹ Hòa Hưng, tỉnh An Giang).. Xuất thân từ một gia đình nông dân khá giả, sau khi học xong bậc tiểu học, Người lên Sài Gòn kiếm sống và sớm gắn bó với giai cấp công nhân.
Năm 1910, Tôn Đức Thắng vào làm công nhân tại hãng Krupp thuộc Sở Kiến trúc cầu đường và nhà cửa Sài Gòn. Đây là bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời hoạt động của Người, đưa Người đến với phong trào công nhân và từng bước hình thành ý thức đấu tranh cách mạng.
Năm 1915, Người vào học Trường Cơ khí Châu Á ở Sài Gòn, nhưng sau đó bị chính quyền thực dân đưa sang Pháp làm lính thợ phục vụ Chiến tranh thế giới thứ nhất. Khi Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 thắng lợi, Tôn Đức Thắng cùng những người bạn trên chiến hạm France tại biển Đen đấu tranh phản đối sự can thiệp vũ trang của các nước đế quốc vào nước Nga Xô viết, kéo cờ đỏ và hát Quốc tế ca chào mừng cách mạng Nga. Sau cuộc đấu tranh ở biển Đen, Người bị trục xuất khỏi Pháp và trở về Sài Gòn.
Người đặt nền móng cho phong trào công nhân Việt Nam
Trở lại Sài Gòn, Tôn Đức Thắng tiếp tục làm việc và tham gia hoạt động của công nhân. Năm 1920, Người tổ chức và lãnh đạo Công hội bí mật, xây dựng cơ sở tại nhiều cảng, xưởng, nhà máy ở Sài Gòn. Đây là tổ chức Công hội đầu tiên của công nhân Việt Nam, mang đậm dấu ấn của Tôn Đức Thắng.
Đặc biệt, tháng 8 năm 1925, dưới sự lãnh đạo của Người, Công hội tổ chức công nhân Ba Son đấu tranh, ngăn chặn việc sửa chữa chiến hạm Michelt nhằm ủng hộ cách mạng Trung Quốc. Cuộc bãi công giành thắng lợi, có ý nghĩa chính trị quan trọng, thể hiện tinh thần đoàn kết giai cấp và đoàn kết quốc tế của giai cấp công nhân Việt Nam.
Đầu năm 1927, Tôn Đức Thắng được kết nạp vào Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Sài Gòn và tiếp tục có nhiều đóng góp vào việc xây dựng các tổ chức cách mạng tại Nam Bộ.
Kiên cường trong lao tù thực dân
Tháng 7 năm 1929, trong đợt tấn công của thực dân Pháp, Tôn Đức Thắng bị bắt và giam tại Khám Lớn Sài Gòn. Ngày 25 tháng 6 năm 1930, Người bị kết án 20 năm khổ sai và đày ra Côn Đảo.
Trong những năm tháng bị giam cầm, Người vẫn giữ vững ý chí cách mạng. Tại Nhà tù Côn Đảo, Tôn Đức Thắng cùng các chiến sĩ cộng sản thành lập Hội những người tù đỏ và Chi bộ Đảng, tổ chức hoạt động giáo dục, tuyên truyền và chăm lo đời sống cho tù nhân. Chi bộ còn cho ra đời các tờ báo viết tay như Ý kiến chung, Tiến lên, đồng thời tổ chức Hội Cứu tế tù nhân và các hoạt động đấu tranh trong nhà tù.
Khi Chi bộ cộng sản ở Nhà tù Côn Đảo được công nhận là chi bộ đặc biệt dưới sự chỉ đạo của Xứ ủy Nam Kỳ, Tôn Đức Thắng được cử làm Bí thư Chi bộ.
Cống hiến cho sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc
Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ngày 22 tháng 9 năm 1945, Tôn Đức Thắng được đón về đất liền và tham gia lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp tại Nam Bộ.
Tháng 10 năm 1945, tại Hội nghị cán bộ toàn Xứ, Người được bầu làm Bí thư Xứ ủy Nam Bộ. Sau đó, Người đề nghị thôi giữ chức Bí thư để đề cử đồng chí Lê Duẩn đảm nhiệm, còn mình phụ trách Ủy ban Kháng chiến và trực tiếp chỉ đạo lực lượng vũ trang.
Tại cuộc Tổng tuyển cử ngày 6 tháng 1 năm 1946, Tôn Đức Thắng trúng cử đại biểu Quốc hội khóa I và liên tục là đại biểu Quốc hội từ khóa I đến khóa VI, trong 34 năm (1946–1980).
Từ năm 1946, Người được giao nhiều trọng trách trong Quốc hội, Mặt trận và Nhà nước. Năm 1951, tại Đại hội toàn quốc thống nhất Việt Minh – Liên Việt, Tôn Đức Thắng được bầu làm Chủ tịch Mặt trận Liên Việt. Năm 1955, Người được bầu làm Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đồng thời giữ nhiều trọng trách quan trọng trong Quốc hội và hoạt động đối ngoại, hòa bình.
Người kế tục trọng trách của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Tháng 7 năm 1960, Tôn Đức Thắng được Quốc hội bầu làm Phó Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trên cương vị này, Người cùng Trung ương Đảng, Nhà nước, Quốc hội và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách; đồng thời dành nhiều thời gian thăm hỏi, động viên lực lượng vũ trang, công nhân, nông dân, học sinh, sinh viên và nhân dân.
Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời ngày 2 tháng 9 năm 1969, Quốc hội khóa III bầu Tôn Đức Thắng làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Người tiếp tục được Quốc hội khóa IV bầu giữ cương vị Chủ tịch nước.
Tháng 7 năm 1976, tại kỳ họp đầu tiên của Quốc hội thống nhất – Quốc hội khóa VI, Tôn Đức Thắng được Quốc hội nhất trí bầu làm Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Ngày 30 tháng 3 năm 1980, do tuổi cao, sức yếu, Chủ tịch Tôn Đức Thắng từ trần, hưởng thọ 92 tuổi.
Di sản của một cuộc đời cách mạng
Với 92 tuổi đời và gần 70 năm hoạt động cách mạng, Chủ tịch Tôn Đức Thắng đã có những đóng góp to lớn đối với sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Cuộc đời và sự nghiệp của Người là tấm gương sáng về lòng yêu nước, sự trung thành và tận tụy với cách mạng, tinh thần kiên cường, bất khuất, đức tính khiêm tốn, giản dị, tình thương yêu đồng chí, đồng bào, tinh thần đại đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế.
Thủ tướng Phạm Văn Đồng từng khẳng định di sản quý giá mà Tôn Đức Thắng để lại cho nhân dân chính là “chất người Tôn Đức Thắng” – sự kết tinh của phẩm chất hào hiệp Nam Bộ, ý chí kiên cường, tài năng sáng tạo Việt Nam, tinh thần tiên phong của giai cấp công nhân, phẩm chất cách mạng của người yêu nước, người cộng sản và tính nhân đạo sâu sắc.
Để ghi nhận những cống hiến to lớn của Người, Chủ tịch Tôn Đức Thắng được trao tặng Huân chương Sao Vàng, Huân chương Xukhe Bato của Nhà nước Mông Cổ và Giải thưởng Hòa bình quốc tế Lê Nin của Liên bang Xô viết.
Tên tuổi Tôn Đức Thắng được đặt cho nhiều đường phố, trường học và công trình trên cả nước. Tại An Giang – quê hương của Người – Khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng tại Cù lao Ông Hổ được xây dựng để tưởng nhớ và tri ân những cống hiến của Người.
Chủ tịch Tôn Đức Thắng mãi là tấm gương sáng về bản lĩnh, nhân cách, lòng yêu nước và tinh thần phụng sự Tổ quốc, là biểu tượng đẹp của giai cấp công nhân, khối đại đoàn kết toàn dân tộc và truyền thống cách mạng Việt Nam.


