CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA THỦ KHOA HUÂN
Cuộc đời hoạt động của cụ Thủ Khoa Huân gồm 10 năm kháng chiến chống Pháp chia làm 3 giai đoạn, 5 năm bị đi đày biệt xứ và 3 năm bị quản thúc tại Chợ Lớn.
Kháng chiến chống Pháp lần thứ 1 (1859 - 1861): Ngày 01/9/1858 (Mậu Ngọ, năm Tự Đức thứ 11), hải quân Pháp nổ súng tiến chiếm bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng). Sau đó, quân Pháp kéo quân từ Đà Nẵng theo đường sông tiến đánh chiếm được thành Gia Định (Sài Gòn) ngày 17/2/1859. Tháng 5/1859, Nguyễn Hữu Huân bỏ chức giáo thụ chiêu mộ nghĩa binh cùng với các sĩ phu yêu nước khác như Trương Định, Trần Thiện Chánh, Lê Huy chống Pháp, được triều đình phong chức Phó Quản đạo. Ông cùng nghĩa binh chặn đánh Pháp tiến chiếm Định Tường qua kênh Bảo Định từ 1/4 đến 11/4/1861. Tháng 5/1861 khi triều đình cử Biện lý Bộ binh Đỗ Thúc Tịnh làm Khâm phái quân vụ vào mộ nghĩa dũng các tỉnh Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên để chống Pháp. Thủ Khoa Huân đã đem lực lượng gia nhập vào và cùng với lực lượng này chống Pháp tại căn cứ Mỹ Quý. Sau 57 ngày đêm cầm cự, căn cứ Mỹ Quý thất thủ. Đến năm 1861, lực lượng này bị quân Pháp đánh tan rã, chấm dứt giai đoạn kháng chiến chống Pháp lần thứ nhất (1859- 1861) của Cụ Nguyễn Hữu Huân.
Kháng chiến chống Pháp lần thứ 2 (1862- 1864): Ngày 05/6/1862 triều đình cắt giao 3 tỉnh miền Đông cho Pháp và lấy lại Vĩnh Long. Nhân dân 3 tỉnh miền Đông đứng lên chống Pháp và tôn Trương Định làm Bình Tây đại nguyên soái. Thủ Khoa Huân đem toàn bộ lực lượng gia nhập nghĩa quân Trương Định và xây dựng căn cứ địa Tân Hòa tại Gò Công và được phong chức Phó Đề đốc. Ngày 17 và 18/2/1862 nghĩa quân Trương Định và các lực lượng nghĩa quân 3 tỉnh miền Đông đồng loạt tấn công quân Pháp ở Thuộc Nhiêu, Gò Cây Mai, Phước Tuy, Long Thành… thu được nhiều thắng lợi. Ngày 25/2/1863 bọn Pháp tấn công vào căn cứ Tân Hòa. Căn cứ này thất thủ. Trương Định kéo quân về vùng Lý Nhơn (huyện Cần Giờ, TP. Hồ Chí Minh hiện nay). Còn Thủ Khoa Huân kéo quân về Bình Cách và trực tiếp lãnh đạo nghĩa quân Định Tường chống Pháp.
Cuối năm 1863 quân Pháp tấn công vào Bình Cách, Thủ Khoa Huân rút quân về Thuộc Nhiêu rồi qua An Giang hợp cùng nghĩa binh của Võ Duy Dương cố thủ An Giang. Tháng 01/1864 Nguyễn Hữu Huân và Thiên Hộ Dương được sự hưởng ứng của nhân dân 3 tỉnh Vĩnh Long, Châu Đốc và Hà Tiên đã chiêu mộ được nhiều nghĩa binh dũng cảm, dựng cờ khởi nghĩa, mưu đồ khởi sự. Tháng 5/1864 quân Pháp gởi thơ đến quan chủ tỉnh An Giang làm áp lực buộc chính quyền An Giang phải bắt Nguyễn Hữu Huân và Thiên Hộ Dương nộp cho bọn Pháp. Thiên Hộ Dương hay tin đã kéo quân trở về Định Tường đào hào đắp đồn ở Đồng Tháp Mười. Còn lại một mình Nguyễn Hữu Huân chỉ huy nghĩa binh chống Pháp. Tháng 7/1864, quan chủ tỉnh An Giang bắt Nguyễn Hữu Huân nộp cho Pháp. Bọn Pháp chuyển Ông về giam trong ngục Sài Gòn. Ngày 22/8/1864 Ông bị chính quyền xâm lược Pháp kết án tù khổ sai chung thân 10 năm và đày đi đảo Cayenne (một đảo ở vùng biển bắc Nam Mỹ thuộc xứ Guyane thuộc địa của Pháp), chấm dứt giai đoạn kháng chiến chống Pháp lần thứ hai (1862- 1864) của Cụ Nguyễn Hữu Huân. 3. Năm năm đi đày biệt xứ (1864 - 1869) Trong thời gian bị giam cầm trên đảo, Cụ Thủ Khoa Huân đã nuôi dưỡng trong lòng chí căm thù quân xâm lược, mài sắc ý chí chiến đấu và bản lĩnh đấu tranh. Nhờ đó Ông vượt qua tất cả những tình cảm yếu đuối tầm thường. Cuộc chiến đấu bằng gươm giáo của Cụ được chuyển sang cuộc chiến đấu với vũ khí mới là bút mực, thơ văn thể hiện ý chí căm thù giặc, chống giặc khi có điều kiện. 4. Ba năm bị quản thúc tại Chợ Lớn (1869 - 1872) Sau khi bọn Pháp dẹp tan các cuộc khởi nghĩa của các sĩ phu và nông dân yêu nước, chúng sử dụng các tay sai có học thức để dựng nên chính quyền bù nhìn tại các địa phương đã chiếm đóng. Bọn giặc Pháp nghĩ tới việc dụ hàng để sử dụng Cụ Nguyễn Hữu Huân. Việc làm này chúng nhắm vào 2 mục đích: một là sử dụng tài năng của Cụ trong bộ máy chính quyền tay sai, hai là qua dụ hàng được Thủ Khoa Huân sẽ răn đe các sĩ phu yêu nước còn lại đang bất hợp tác với chính quyền tay sai.
Với suy nghĩ ấy, ngày 04/2/1869 bọn Pháp đã ân xá cho Cụ Nguyễn Hữu Huân. Sau khi về Sài Gòn, bọn Pháp sai tên Việt gian Tổng đốc Đỗ Hữu Phương đóng vai bạn thời thơ ấu bảo lãnh Cụ. Tổng đốc Phương đã đưa Cụ về sống chung tại nhà riêng ở Chợ Lớn để dễ bề giám sát và chiêu dụ. Bọn thực dân làm ra vẽ tin tưởng vào sự thay đổi lập trường của Cụ và cử Cụ làm Giáo thụ tại Chợ Lớn được 3 năm (1869 - 1872). Tương kế, tựu kế Cụ cũng lợi dụng điều đó để thực hiện ý chí của mình. Bề ngoài làm ra vẽ khuất phục nhưng bên trong thì Cụ bí mật tìm cách liên lạc với những người yêu nước ở Chợ Lớn.
Kháng chiến chống Pháp lần thứ ba (1872 - 1875): Trong thời gian bị giam lỏng, Cụ Thủ Khoa biết rằng chức vụ Giáo thụ Chợ Lớn mà Tổng đốc Phương vận động cho Cụ chỉ là miếng mồi nhữ để dụ hàng. Bọn chúng bị vỡ mộng khi hay tin năm 1872 Nguyễn Hữu Huân đã trốn khỏi nhà Đỗ Hữu Phương trở về vùng Mỹ Tho, Tân An và cùng một số nhân sĩ yêu nước chờ thời cơ khởi quân kháng chiến chống Pháp lần thứ ba. Năm 1873, phong trào kháng chiến chống Pháp của Cụ Nguyễn Hữu Huân lan ra khắp các tỉnh Mỹ Tho, Tân An, Chợ Lớn, được sự hưởng ứng của các thủ lĩnh nghĩa quân ở các địa phương. Lần này, Thủ Khoa Huân học tập và đúc rút kinh nghiệm của Trương Định tiến hành xây dựng hệ thống chính quyền kháng chiến cấp thôn xã ở các địa bàn Mỹ Tho, Tân An. Ngày 15/3/1874 triều đình Tự Đức đã ký hoà ước Giáp Tuất công nhận toàn bộ Nam Kỳ là thuộc địa của Pháp. Với tình hình này, Cụ Nguyễn Hữu Huân thấy không còn con đường nào khác là phải có vũ khí, súng đạn, lương thực mới có thể đánh đuổi bọn xâm lược ra khỏi các tỉnh Nam Kỳ. Cụ về quê, bán hết ruộng đất mà Ông Cha để lại đồng thời vận động quyên góp trong nhân dân yêu nước và được nhân dân hưởng ứng rất đông. Số tiền vận động được, Cụ giao cho nhóm Trường Phát (Hoa Kiều) đi Trung Quốc mua vũ khí, đạn dược. Ở nhà, Cụ vạch kế hoạch nổi dậy đánh Pháp khắp nơi từ Sài Gòn, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Châu Đốc, Hà Tiên. Nhóm Trường Phát đã nhẫn tâm lường gạt Cụ, ôm số tiền trốn mất. Cuộc tổng khởi nghĩa không thành, Cụ trở về Gia Định xây dựng kế hoạch khác.
Ngày 15/11/1874, Cụ về chiếm giữ Bình Cách cùng Âu Dương Lân huy động lực lượng. Bọn Pháp đem quân đánh, Cụ chống cự không lại, rút chạy về Chợ Gạo. Tại đây, Cụ đã bị tên đốc binh Hương điểm chỉ cho quân của Tổng đốc Trần Bá Lộc đến bắt vào ngày 15/5/1875 và giam Cụ trong ngục tại Mỹ Tho. Bọn chúng ra sức chiêu dụ đầu hàng, hứa hẹn ban bổng lộc, chức tước, Cụ một mực không cộng tác với giặc ngoại xâm. Đến ngày 19/5/1875 (14/4 năm Ất Hợi) chúng đem Cụ về xử chém tại làng Tịnh Hà, bên đầu cầu Cai Lộc (bây giờ là Cầu Hoà Tịnh, giáp ranh giữa xã Mỹ Tịnh An và xã Hoà Tịnh, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang), chấm dứt giai đoạn kháng chiến chống Pháp lần thứ ba (1872- 1875) của Cụ Nguyễn Hữu Huân.
Sau 3 lần khởi nghĩa không thành công, ngày 19 tháng 5 năm 1875, Cụ bị xử chém tại quê nhà. Nghĩa nước, tình dân, Thủ Khoa Huân đã trả xong khi ông vừa tròn 45 tuổi. Tên Ông được đặt cho tuyến đường tại xã Phước Trung - Tăng Hoà, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang; cách Khu Du lịch Biển Tân Thành (xã Tân Thành) 8,5 km; cách Điểm Du lịch Vườn Táo 6 Hồi (xã Tân Thành) 6,2 km; cách Điểm Du lịch Vườn Xanh, Đồng Diều (xã Kiểng Phước) 13,9 km
Yêu nước và nghĩa khí: Dù đỗ đạt và được triều đình bổ nhiệm, Nguyễn Hữu Huân đã từ quan để lãnh đạo phong trào kháng chiến chống Pháp, chiêu mộ nghĩa binh cùng các sĩ phu yêu nước khác.
Kiên cường và bất khuất: Ông đã trải qua nhiều lần bị quân địch bắt giữ nhưng không hề khuất phục, thể hiện ý chí chiến đấu kiên cường và lòng yêu nước sâu sắc.
Tài hoa và văn chương: Bên cạnh tài năng quân sự, ông còn là một nhà thơ, nhà văn yêu nước. Các bài thơ, bài văn của ông thể hiện rõ tinh thần căm thù giặc và ý chí đấu tranh. Nguyễn Hữu Huân làm thơ không nhiều, và hầu hết sáng tác của ông đều làm trong thời kỳ kháng Pháp. Tuy nhiên, qua bài thơ Tặng vợ (làm lúc bị Pháp bắt lần đầu), bài Tự Thuật (làm khi bị đày sang Guyan), và nhiều bài khác như: Bửa củi, Cảm hoài, Thuật hoài, Hò khoan ca, Khi được tha về...đều tỏ rõ ý chí bền bỉ tranh đấu vì đất nước và nhân dân của ông. Vì vậy, Nguyễn Hữu Huân được ghi nhận là một hiện tượng đặc sắc của văn học yêu nước thế kỷ 19 của Việt Nam: hiện tượng nhà thơ - chiến sĩ.



