Cuộc đời và sự nghiệp của Trung tướng Phạm Tuân
Người Châu Á đầu tiên bay vào Vũ Trụ, người duy nhất được phong 3 danh hiệu Anh hùng
Phạm Tuân sinh ngày 14 tháng 2 năm 1947 tại Kiến Xương , tỉnh Thái Bình, miền Bắc Việt Nam .
Ban đầu là một binh sĩ bộ binh , ông được tuyển vào Không quân Nhân dân Việt Nam (VPAF) năm 1965 với tư cách là học viên cơ khí radar. Sau đó, Tuân được chọn để huấn luyện phi công với tư cách là sĩ quan , tốt nghiệp Trường bay Krasnodar ở Liên Xô với tư cách là phi công MiG-17 vào năm 1967, sau đó được chuyển lên huấn luyện MiG-21 và được điều đến Trung đoàn huấn luyện không quân 910 của VPAF từ năm 1968 đến năm 1969 trong khi tham gia phát triển các kỹ thuật đánh chặn ban đêm chống lại các cuộc không kích của Mỹ, và sau đó được điều đến Trung đoàn tiêm kích 923 từ năm 1969 đến năm 1970, cuối cùng là Trung đoàn tiêm kích 921 từ năm 1970 đến năm 1973.
Vào các đêm từ 18 đến 27 tháng 12 năm 1972, trong Chiến dịch Linebacker II (còn được gọi là "Vụ đánh bom Giáng sinh"), khi đó là Thiếu tá Phạm đã giao chiến với máy bay ném bom hạng nặng B-52 Stratofortress của Bộ Tư lệnh Không quân Chiến lược Hoa Kỳ (SAC) ít nhất một chục lần. Vào ngày 27, Phạm đã có thể tiếp cận một đội hình B-52 ở tốc độ siêu âm trên chiếc MiG-21MF (#5121) của mình, và bắn một cặp tên lửa ở tầm bắn dưới 4 km, xác định bằng mắt thường và báo cáo rằng tên lửa của ông đã bắn trúng chiếc B-52D, khiến nó bốc cháy và rơi xuống trên biên giới tỉnh Hòa Bình - Vĩnh Phúc . Tuyên bố này, được cho là chiếc B-52 duy nhất bị bắn hạ trong không chiến trong chiến tranh, không rõ ràng theo hồ sơ của Hoa Kỳ, vốn cho rằng chiếc B-52 này đã bị bắn hạ bởi một tên lửa đất đối không . Trong cuốn sách "Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không" của Nguyễn Minh Tâm, do Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân Việt Nam (Nhà xuất bản Quân đội nhân dân Việt Nam) xuất bản, tác giả khẳng định Phạm Tuân đã bắn rơi chiếc B-52 bằng hai tên lửa không đối không K-13 ở cự ly 4 km.
"Máy bay của tôi chỉ cách máy bay ném bom B-52 khoảng 10km khi tôi phát hiện ra chúng. Tôi đã thả thùng nhiên liệu phụ và lập tức yêu cầu lệnh tấn công (từ đài kiểm soát không lưu ). Mặc dù tôi đang tiếp cận máy bay ném bom với tốc độ vượt quá tốc độ âm thanh , tôi vẫn cảm thấy thời gian trôi rất chậm. Nhóm máy bay tiêm kích F-4 hộ tống của địch không phát hiện ra chúng tôi. Để chắc chắn, tôi tiếp tục rút ngắn khoảng cách, xuống còn trong phạm vi 3km và phóng tên lửa, và khi đang thoát thân, tôi đã nhìn thấy rõ khoảnh khắc cả hai quả tên lửa phát nổ khi rơi xuống chiếc B-52, lúc này nó đang bốc cháy... chắc chắn những chiếc F-4 sẽ đuổi theo tôi ngay bây giờ, nhưng tôi đã thoát được."
Tuân nói rằng vì B-52 được trang bị rất nhiều mồi nhử hồng ngoại nên anh ta phải tiếp cận mục tiêu (trong vòng 2-3 km) để đảm bảo tiêu diệt máy bay ném bom, mặc dù tầm bắn an toàn tối thiểu để phóng tên lửa ít nhất là 8 km. Nhiều tuyên bố chiến thắng trong không chiến của các phi công MiG thuộc Không quân Nhân dân Việt Nam chống lại máy bay chiến đấu của Mỹ đã bị phản bác là tổn thất do tên lửa đất đối không hoặc pháo phòng không , vì điều đó được coi là "ít đáng xấu hổ" hơn là thua một phi công địch.
Năm 1973, Tuân được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân Việt Nam. Năm 1980, Tuân được trao tặng danh hiệu "Anh hùng Lao động Việt Nam". Năm 1989, Tuân được bổ nhiệm làm "Phó Tư lệnh Chính trị " thuộc Không quân Nhân dân Việt Nam . Ông được thăng hàm Trung tướng vào năm 1999. Trong năm 2000, Tuân giữ chức vụ "Giám đốc Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng". Cuối cùng, ông nghỉ hưu khỏi các chức vụ chính phủ vào cuối năm 2007.
Tuân đã nhận được nhiều phần thưởng và huân chương vì những cống hiến của mình, trong đó có Huân chương Hồ Chí Minh . Ông cũng được trao tặng Huân chương Lenin và vinh dự hiếm hoi là một trong số ít người nước ngoài được phong tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô .



