Người có công giúp đỡ cách mạng

Cuộc đời vẻ vang của một bậc tướng lĩnh tài ba

Đại tướng Đoàn Khuê là nhà chính trị, quân sự song toàn, xuất sắc của Đảng và Quân đội nhân dân Việt Nam với 60 năm hoạt động cách mạng kiên trung qua nhiều chiến trường ác liệt trong nước cũng như thực hiện nhiệm vụ quốc tế. Trên các cương vị chủ chốt của Bộ Quốc phòng, đồng chí đã có đóng góp to lớn trong việc tham mưu điều chỉnh chiến lược, xây dựng khu vực phòng thủ và kết hợp kinh tế với quốc phòng để bảo vệ vững chắc Tổ quốc

Lâm Đồng14/06/2026Phan Ngô Đình Tạo (Trường Đại Học Yersin Đà Lạt)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Đại tướng Đoàn Khuê: Cuộc đời vẻ vang của một bậc tướng lĩnh tài ba

Đại tướng Đoàn Khuê (nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Phó bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng) là một chiến sĩ cộng sản kiên trung, một nhà chính trị và quân sự song toàn, xuất sắc của Đảng và Quân đội nhân dân Việt Nam. Trong chặng đường 60 năm hoạt động cách mạng (1939-1999), đồng chí đã đảm nhiệm nhiều cương vị cốt cán, đóng góp to lớn vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, làm nghĩa vụ quốc tế và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Người cán bộ chính trị mẫu mực, sâu sát thực tiễn

Sớm giác ngộ cách mạng từ năm 16 tuổi, đồng chí Đoàn Khuê hăng hái tham gia phong trào thanh niên phản đế ở phủ Triệu Phong. Năm 1940, đồng chí bị địch bắt, kết án tù và giam giữ tại nhà lao Quảng Trị trước khi bị đưa đến nhà đày Buôn Ma Thuột. Suốt hơn 5 năm bị đày ải và tra tấn dã man, đồng chí vẫn giữ vững chí khí kiên cường, một lòng trung thành với Đảng. Sau khi thoát khỏi nhà tù vào tháng 5-1945, đồng chí trở về hoạt động gây dựng cơ sở tại Quảng Bình, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương và lãnh đạo nhân dân đứng lên giành chính quyền cách mạng.

Khi thực dân Pháp trở lại xâm lược, đồng chí lần lượt đảm nhiệm nhiều chức vụ như Ủy viên Quân sự của Ủy ban Quân chính Khu C, Chính trị viên các Trường Lục quân trung học Quảng Ngãi và các Trung đoàn 69, 73, 78, 126. Đặc biệt, từ năm 1948 đến 1954, trên cương vị Chính ủy, Bí thư Trung đoàn ủy Trung đoàn 84 và Trung đoàn 108 (đơn vị chủ lực cơ động đầu tiên của Liên khu 5), đồng chí đã thể hiện tác phong gương mẫu, sâu sát thực tiễn. Đồng chí chủ trương bố trí xen kẽ chiến sĩ người Kinh và người dân tộc thiểu số tại các đội vũ trang tuyên truyền, đẩy mạnh công tác dân vận tại vùng địch hậu và nâng cao chất lượng chính trị cho đơn vị, góp phần giữ vững vùng tự do "Nam-Ngãi-Bình-Phú".

Sau hiệp định Giơ-ne-vơ, đồng chí giữ chức Phó chính ủy Đại đoàn 305, Chính ủy Lữ đoàn Pháo binh 675, rồi Chính ủy Sư đoàn 351. Năm 1958, trước âm mưu chia cắt đất nước của đế quốc Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm, đồng chí được điều ra Quân khu 4 làm Chính ủy Lữ đoàn 341 phòng thủ tại giới tuyến quân sự tạm thời. Bằng nhãn quan chính trị sắc sảo, đồng chí đã chỉ đạo đơn vị thực hiện "ba cùng" với nhân dân, đưa lữ đoàn trở thành một đơn vị chiến đấu giỏi. Đến tháng 10-1960, đồng chí được bổ nhiệm làm Phó chính ủy Quân khu 4, cùng tập thể chấn chỉnh biên chế và xây dựng thế trận ba thứ quân vững chắc.

Cuối năm 1962, trước tình hình Mỹ-Diệm lập "ấp chiến lược" gay gắt ở đồng bằng, đồng chí Đoàn Khuê được điều động vào chiến trường Khu 5 làm Phó chính ủy Quân khu kiêm Chính ủy Mặt trận Tây Nguyên. Trong suốt giai đoạn 1963-1975, đồng chí đã khơi dậy tinh thần tự lực tự cường, quyết tâm đánh Mỹ cho quân dân Khu 5. Ngay sau Hiệp định Paris (1973), đồng chí kịp thời chấn chỉnh các biểu hiện mất cảnh giác, chỉ đạo các đơn vị tiếp tục đấu tranh chống lấn chiếm, giữ vững vùng giải phóng. Với tư tưởng "Muốn thắng Mỹ là phải phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng", đồng chí thường xuyên trực tiếp xuống đơn vị để phổ biến kế hoạch, thực hiện dân chủ quân sự sâu rộng trước mỗi trận đánh. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, đồng chí cùng tập thể Quân khu ủy xử trí linh hoạt các tình huống, góp phần giải phóng Đà Nẵng và tiến tới giải phóng hoàn toàn miền Nam.

Vị tướng mưu lược trên những chiến trường trọng điểm

Không chỉ là một cán bộ chính trị xuất sắc, Đại tướng Đoàn Khuê còn là một vị tướng mưu lược, người chỉ huy tài ba. Trong kháng chiến chống Pháp, dấu ấn lớn nhất của đồng chí tại Liên khu 5 là trận tiến công tiêu diệt cứ điểm Măng Đen ở Bắc Tây Nguyên (ngày 27 và 28-1-1954). Khi trận công kiên gặp khó khăn, đồng chí đã táo bạo quyết định chuyển hướng thứ yếu thành hướng chủ yếu, tạo bất ngờ lớn khiến kẻ địch không kịp trở tay và chuốc lấy thất bại hoàn toàn.

Bước sang cuộc kháng chiến chống Mỹ, đồng chí đã vận dụng sáng tạo phương châm "lấy nhỏ đánh lớn", "lấy ít địch nhiều", lãnh đạo chỉ đạo phong trào "Phá ấp chiến lược" và xây dựng các "Vành đai diệt Mỹ" áp sát các căn cứ lớn của địch tại Đà Nẵng, Chu Lai, An Khê. Thế trận cài răng lược này đã giúp ta giành thắng lợi trong nhiều trận đánh lịch sử như Vạn Tường, Plei Me, Đồng Dương, Xuân Sơn. Sau Tết Mậu Thân 1968, khi yếu tố bất ngờ không còn, đồng chí kịp thời chỉ đạo chuyển hướng sử dụng lực lượng nhỏ đánh địch ở nông thôn và đồng bằng, giúp Quân khu 5 hạn chế tổn thất và giữ vững thế trận.

Sau ngày đất nước thống nhất, trên cương vị Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 5, đồng chí đã giải quyết triệt để vấn đề tổ chức FULRO bằng cách chuyển từ biện pháp "truy quét" thuần túy sang giải pháp đồng bộ: giáo dục chính trị, xây dựng cơ sở, phát triển kinh tế - xã hội kết hợp với nghiệp vụ chuyên môn. Đầu năm 1983, đồng chí đảm nhiệm chức vụ Phó tư lệnh - Tham mưu trưởng Bộ tư lệnh 719, rồi Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tư lệnh Bộ tư lệnh 719 (1986), Trưởng ban lãnh đạo Đoàn chuyên gia Việt Nam tại Campuchia. Tại đây, đồng chí không quản ngại hiểm nguy, xuống tận chiến hào động viên chiến sĩ, giúp nhân dân Campuchia hồi sinh đất nước, để lại hình ảnh cao đẹp về "Đội quân nhà Phật".

Nhà lãnh đạo uy tín xây dựng nền quốc phòng toàn dân

Trở thành cán bộ cao cấp của Đảng và Quân đội, đồng chí Đoàn Khuê lần lượt giữ các trọng trách: Tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam, Phó bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Đồng chí luôn giữ lối sống trung thực, giản dị, liêm khiết, hết mực thương yêu đồng đội nên được toàn quân và toàn dân kính trọng.

Đồng chí đã tham mưu cho Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 02 (khóa VI) ngày 30-7-1987, xác định nhiệm vụ quốc phòng trong tình hình mới. Đồng chí là người trực tiếp triển khai xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố và đưa ra quan điểm kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế với quốc phòng. Đồng chí khẳng định hai nhiệm vụ này có sự thống nhất biện chứng nhằm làm cho đất nước giàu mạnh; việc phát triển kinh tế - xã hội phải tạo ra cơ sở vững chắc cho tiềm lực quốc phòng để sẵn sàng chuyển hóa thành sức mạnh chiến đấu khi có chiến tranh xảy ra.

Bằng tư duy đổi mới và tầm nhìn chiến lược, đồng chí đã chỉ đạo thực hiện thành công cuộc điều chỉnh chiến lược: chuyển từ đề phòng chiến tranh xâm lược quy mô lớn sang đối phó với xung đột bộ phận, "chiến tranh phá hoại nhiều mặt", chống "diễn biến hòa bình" và bạo loạn lật đổ. Phương hướng chiến lược mới tập trung vào việc duy trì quân số thường trực thích hợp nhưng tinh nhuệ, hiện đại, cơ động linh hoạt, kết hợp với lực lượng dự bị động viên và dân quân tự vệ hùng hậu nhằm bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Đại tướng Đoàn Khuê là dịp để toàn Đảng, toàn quân học tập tấm gương sáng về phẩm chất đạo đức và tài năng của đồng chí. Để phát huy di sản quý báu đó, toàn quân hiện nay cần tập trung thực hiện ba nhiệm vụ cốt lõi: quán triệt nghiêm túc đường lối của Đảng để nâng cao sức mạnh chiến đấu; kết hợp chặt chẽ công tác quân sự với công tác chính trị nhằm xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện; nâng cao chất lượng chính quy, rèn luyện kỷ luật và xây dựng các khu vực phòng thủ vững chắc.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Cuộc đời vẻ vang của một bậc tướng lĩnh tài ba | Câu chuyện thời hoa lửa