Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

CUỘC HẸN BÊN MẢ BÀ DŨ KÝ: CHIỀU LỊCH SỬ GIẢI THOÁT LUẬT SƯ NGUYỄN HỮU THỌ

Cuối tháng 10 năm 1961, dưới chân núi Chóp Chài, một cuộc hẹn bí mật đã góp phần làm thay đổi cuộc đời luật sư Nguyễn Hữu Thọ. Sau nhiều năm bị quản thúc và hai lần giải thoát bất thành, ông được những người dân, chiến sĩ Phú Yên đưa về vùng căn cứ cách mạng. Đằng sau cuộc giải thoát ấy là lòng quả cảm của những con người bình dị, những gia đình âm thầm che chở và cả những mất mát kéo dài nhiều năm sau đó.

Vĩnh Long20/10/2026Đoàn phường Bà Rịa (Phường Bà Rịa)1 lượt xem0 lượt chia sẻ
CUỘC HẸN BÊN MẢ BÀ DŨ KÝ: CHIỀU LỊCH SỬ GIẢI THOÁT LUẬT SƯ NGUYỄN HỮU THỌ

Chiều cuối tháng 10 năm 1961, từ thị xã Tuy Hòa, một người đàn ông đạp xe về phía chân núi Chóp Chài. Đó là luật sư Nguyễn Hữu Thọ, người bị chính quyền Ngô Đình Diệm bắt giam rồi đưa đi quản thúc tại Phú Yên. Con đường ấy không dẫn đến một phiên tòa. Phía trước là điểm hẹn bí mật bên mả bà Dũ Ký; phía sau là những trạm gác mà chỉ một sơ suất cũng có thể khiến cuộc giải thoát thất bại.

Nguyễn Hữu Thọ đã xa Sài Gòn - Chợ Lớn nhiều năm. Từng bảo vệ quyền dân sinh, dân chủ, ông bị bắt năm 1954, rồi đưa ra Phú Yên. Sự quản thúc không làm ông mất ảnh hưởng với phong trào yêu nước. Khi Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời ngày 20/12/1960, ông vẫn chưa được tự do. Đưa ông về căn cứ là nhiệm vụ vừa cấp thiết, vừa hiểm nguy: phải giữ được bí mật và an toàn giữa vùng kiểm soát của đối phương.

Nhiệm vụ được giao cho lực lượng cách mạng Phú Yên, mang mật danh “Kế hoạch chị Nghĩa”. Lần đầu, những người tổ chức chuyển thư của giáo sư Phạm Huy Thông đến ông, chuẩn bị xe đạp và điểm đón. Nhưng người chuyển xe bị bắt, kế hoạch không thành. Lần thứ hai, tháng 6/1961, lực lượng vũ trang tập kích chi khu Củng Sơn, dự định đưa ông ra ngoài. Khi tổ công tác đến nơi, ông đã được chuyển về Tuy Hòa. Hai lần lỡ hẹn khiến thử thách thêm nặng nề, nhưng kế hoạch giải thoát vẫn được tiếp tục.

Lần thứ ba, nhiệm vụ không chỉ đặt trên vai người cầm súng. Những gia đình ở Liên Trì, Phước Hậu che chở cho chiến sĩ trinh sát, đặc công; thanh niên địa phương được bố trí cảnh giới. Tổ trinh sát có Trần Nựu và Phan Văn An; người hỗ trợ còn có nữ y tá Đàm Thị Lý. Theo lời kể được Báo Phú Yên ghi lại, bà chuẩn bị thuốc, bông băng cho tình huống khẩn cấp, đồng thời theo dõi thông tin về đường đi và canh gác. Đằng sau cuộc giải thoát là nhiều công việc nhỏ, âm thầm mà sinh tử.

Bà Lý nhớ chiều 29/10 đã nấu cơm cho cha chồng và con gái sớm hơn thường lệ. Chồng bà, Trần Nựu, cùng đồng đội đến khu mả bà Dũ Ký kiểm tra lại vị trí, phương án. Một bữa cơm trở thành chi tiết đáng nhớ. Người làm nhiệm vụ vẫn có gia đình phía sau: trước mắt là công việc phải hoàn thành, sau lưng là người thân có thể chịu liên lụy nếu cuộc giải thoát bị phát hiện.

Chiều hôm sau, theo tư liệu địa phương, lực lượng cảnh giới được bố trí từ cây số 2 đến cây số 5 trên quốc lộ 1A. Luật sư Nguyễn Hữu Thọ đạp xe từ thị xã ra điểm hẹn, vượt qua cổng gác. Khi ông tới gần mả bà Dũ Ký, các chiến sĩ chờ sẵn nhận đúng ám hiệu, đưa ông vào bìa núi. Cuộc gặp diễn ra rất nhanh. Bộ đội giúp ông thay quần áo, dẫn đi theo hành lang đã chuẩn bị, men chân núi Chóp Chài, qua vùng Bàu Cả, đồng Màng Màng đến nơi có lực lượng yểm trợ.

Chiếc xe đạp không được để lại như một dấu chỉ đường. Theo Báo Phú Yên, Phan Văn An và Phan Văn Diệt tìm cách xóa dấu vết, ngụy trang để đánh lạc hướng truy tìm. Một phương tiện bình thường trở thành chi tiết cho thấy sự tỉ mỉ của những người tham gia. Thành công không đến từ một người, mà từ những mắt xích được gìn giữ: người chuyển tin, người canh đường, người đón, người dẫn lối và cả người ở lại xóa dấu vết.

Cuộc giải thoát thành công, nhưng hiểm nguy không chấm dứt. Tư liệu địa phương ghi nhận chính quyền Sài Gòn đã bắt 18 cơ sở cách mạng vùng Phước Hậu, Liên Trì. Bà Đỗ Thị Từng, bà Nguyễn Thị Lá và ông Phan Văn Diệt chịu cảnh giam cầm, lưu đày nhiều năm. Phan Văn An tiếp tục chiến đấu và hy sinh cuối năm 1963, khi còn trẻ, chưa lập gia đình. Nhắc đến buổi chiều dưới chân Chóp Chài, không thể chỉ nhớ người được đưa ra khỏi vòng quản thúc mà quên những người đã trả giá để giữ con đường ấy thông suốt.

Về căn cứ, Nguyễn Hữu Thọ tiếp tục hành trình vào miền Nam. Tháng 2/1962, ông được bầu làm Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Qua lời con trai Nguyễn Hữu Châu, một nỗi đau khác hiện lên: ở Sài Gòn, gia đình không biết tin ông, từng lo ông bị thủ tiêu. Mãi đến năm 1962, người con mới lên đường vào căn cứ gặp cha. Đằng sau trọng trách lịch sử là tháng ngày gia đình chờ đợi.

Về sau, Nguyễn Hữu Thọ gọi Phú Yên là quê hương thứ hai. Lời ghi nhận ấy dành cho miền đất từng cưu mang ông, và những con người không phải ai cũng được nhắc tên trong sách sử. Giữa núi Chóp Chài và mả bà Dũ Ký, lịch sử được làm nên bằng lòng can đảm, sự kín đáo và tình nghĩa. Với người trẻ hôm nay, câu chuyện còn lại không chỉ là cuộc thoát hiểm ly kỳ, mà còn là câu hỏi: khi điều đúng đắn đòi hỏi cả mình và người khác gánh chịu rủi ro, ta chọn đứng ở đâu?

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn