Bài viết

Cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Nam Bộ – 70 năm nhìn lại

Nam Bộ đứng lên từ buổi đầu gian nan Cách đây 70 năm, khi nhân dân Nam Bộ vừa hưởng trọn 28 ngày độc lập sau Tổng khởi nghĩa Tháng Tám, thì ngày 23-9-1945, thực dân Pháp núp bóng quân Anh dùng vũ lực đánh chiếm các cơ quan chính quyền cách mạng ở Sài Gòn, mở màn cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ hai. Trước thử thách sinh tử ấy, tinh thần yêu nước bùng cháy: “nóp với giáo mang ngang vai”, nhân dân Nam Bộ nhất tề ra trận.

Phú Thọ14/01/2026Đoàn xã Tân Lạc (Đoàn xã Tân Lạc)3 lượt xem0 lượt chia sẻ
Cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Nam Bộ – 70 năm nhìn lại

Nam Bộ đứng lên từ buổi đầu gian nan Cách đây 70 năm, khi nhân dân Nam Bộ vừa hưởng trọn 28 ngày độc lập sau Tổng khởi nghĩa Tháng Tám, thì ngày 23-9-1945, thực dân Pháp núp bóng quân Anh dùng vũ lực đánh chiếm các cơ quan chính quyền cách mạng ở Sài Gòn, mở màn cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ hai. Trước thử thách sinh tử ấy, tinh thần yêu nước bùng cháy: “nóp với giáo mang ngang vai”, nhân dân Nam Bộ nhất tề ra trận.

Tại Sài Gòn, 6.000 Tự vệ công đoàn và 2.000 thanh niên Công an xung phong, với giáo mác, gậy tầm vông, đã đối đầu 10.000 quân Anh–Pháp trang bị vũ khí tối tân. Kẻ thù ảo tưởng “đánh nhanh thắng nhanh”, nhưng bị “trong đánh, ngoài vây” bằng khí phách và quyết tử: tiểu đội chiến sĩ hy sinh đến người cuối cùng để giữ lá cờ Tổ quốc trên cột cờ Thủ Ngữ; thiếu niên anh hùng Lê Văn Tám hóa thành “ngọn đuốc sống” đốt kho xăng Khánh Hội; các chiến sĩ mặt trận Chợ Đệm thề “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” bằng giọt máu hòa chung.

Từ Sài Gòn lan ra toàn Nam Bộ Không chỉ ở đô thị, khắp các địa phương Nam Bộ đều đứng lên kháng chiến. Phải đến thượng tuần tháng 2-1946, Pháp mới chiếm được tỉnh cuối cùng là Bà Rịa, nhưng cái giá phải trả là 1.667 sinh mạng binh sĩ. Báo chí những ngày đầu kháng chiến ghi lại khí thế sục sôi: sẵn sàng hy sinh để bẻ gãy ý chí xâm lược của kẻ thù.

Hậu phương cả nước hướng về Nam Bộ Một nguồn động viên tinh thần to lớn đối với quân dân Nam Bộ là tình cảm của Hồ Chí Minh, của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân. Khắp Bắc Bộ, Trung Bộ rộn ràng “Ngày Nam Bộ”, quyên góp chi viện và gấp rút lập “đoàn quân Nam tiến”. Kiều bào ở Thái Lan, Lào, Campuchia tổ chức chi đội hải ngoại trở về chiến đấu. Trong “Thư gửi đồng bào Nam Bộ” (1-6-1946), Bác khẳng định chân lý bất diệt về sự thống nhất của dân tộc và ân nghĩa với Nam Bộ.

Phá sản “đánh nhanh thắng nhanh”, dựng nền kháng chiến Từ 23-9-1945 đến 19-12-1946, chiến trường Nam Bộ làm phá sản chiến lược “đánh nhanh thắng nhanh”, “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”; thu hẹp vùng kiểm soát của địch, xây dựng lực lượng vũ trang và hình thành chính quyền cách mạng. Tháng 2-1946, thay mặt Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh phong tặng Nam Bộ danh hiệu “Thành đồng Tổ quốc”.

Trong suốt 8 năm kháng chiến tiếp theo, Nam Bộ sát cánh cùng cả nước. Trung bình 300 trận/tháng, lực lượng không ngừng lớn mạnh: từ 27 chi đội (1946) đến hơn 270.000 dân quân tự vệ (1948), góp phần quyết định vào các chiến dịch lớn ở Bắc Bộ, đỉnh cao là Điện Biên Phủ.

Bài học lớn từ chiến trường Nam Bộ Nam Bộ kháng chiến để lại những bài học quý giá cho cách mạng Việt Nam:

Xây dựng Đảng vững mạnh: số đảng viên tăng nhanh, tổ chức cơ sở phủ khắp; đội ngũ cán bộ “trung với Đảng, hiếu với dân”, sống giản dị mà trong sáng.

Đường lối quần chúng: coi cách mạng là sự nghiệp của nhân dân; từ “không rừng núi” mà tạo nên “rừng người, núi người”.

Sáng tạo quân sự: căn cứ bưng biền Đồng Tháp Mười, rừng ngập mặn U Minh, chiến tranh du kích trong lòng địch, địa đạo, giao thông hào, thủy lôi, đặc công nước…

Hậu phương vững chắc: phong trào “hũ gạo nuôi quân”, “con gà kháng chiến”, “áo mùa đông binh sĩ”…

Kinh tế – văn hóa – xã hội: tạm cấp ruộng đất cho nông dân, xây dựng nông thôn mới trong vùng giải phóng; xóa mù chữ cho hàng triệu người; y tế kháng chiến tiến bộ, đẩy lùi dịch bệnh.

Tri ân và tiếp nối Kỷ niệm 70 năm Nam Bộ kháng chiến, với tinh thần “Uống nước nhớ nguồn”, chúng ta đời đời biết ơn các anh hùng liệt sĩ, đồng bào, đồng chí đã hy sinh vì độc lập, tự do. Khắc ghi công lao của Bác Hồ, của Trung ương Đảng và các nhà lãnh đạo ưu tú trên chiến trường Nam Bộ như Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Phạm Hùng, Ung Văn Khiêm, Hà Huy Giáp, Nguyễn Văn Kỉnh, Phạm Văn Bạch, Trung tướng Nguyễn Bình…

Nam Bộ kháng chiến không chỉ là ký ức hào hùng, mà là nguồn lực tinh thần bền bỉ, nhắc nhở các thế hệ hôm nay và mai sau về ý chí quật cường, sức mạnh nhân dân và con đường tất thắng của độc lập dân tộc.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn