Cuộc kháng chiến chống quân Minh của Hồ Quý Ly
Sau khi giành được ngôi vua (năm 1400), nhà Hồ đã tích cực chuẩn bị mọi khả năng, sẵn sàng chấp nhận đương đầu với giặc Minh trong một tình thế hết sức khó khăn.
Để đối phó với cuộc xâm lược của nhà Minh, trước hết nhà Hồ phải tập hợp được một đội quân đông, như Hồ Quý Ly nói: "Ta làm thế nào để có trăm vạn quân thì địch nổi giặc Bắc". Ông đã cho chuẩn bị và có nhiều cải tiến quan trọng trong việc đúc súng thần công và đóng thuyền chiến. Việc quan trọng đó được giao cho Tả tướng quân Hồ Nguyên Trừng đảm nhiệm. Ông đã lập một phòng tuyến chống giặc bắt đầu bằng cứ điểm then chốt Đa Bang (Ba Vì, Hà Tây) kéo dài theo bờ nam sông Đà, sông Hồng đến sông Ninh (Hà Nam) lại tiếp tục theo bờ sông Luộc, sông Thái Bình đến Bình Than dài trên 400km.
Mặt khác, Hồ Nguyên Trừng cho đúc nhiều dây xích lớn chăng qua các khúc sông hiểm trở, kết hợp với quân mai phục được trang bị bằng hỏa lực mạnh. Đặc biệt Hồ Nguyên Trừng đã gấp rút tổ chức những xưởng đúc súng lớn. Nhờ trí thông mình và khả năng sáng tạo, Hồ Nguyên Trừng đã đúc kết những kinh nghiệm cổ truyền. Trên cơ sở đó phát minh, chế tạo ra nhiều loại súng có sức công phá lớn. Từ việc cải tiến, chế thuốc súng, hiểu rõ sức nổ của thuốc súng, ông phát minh ra phương pháp đúc súng mới gọi là súng thần cơ với nhiều loại to nhỏ khác nhau. Loại nhỏ dùng cho bộ binh bắn xa khoảng chừng 700m. Loại lớn thường gọi là "thần cơ pháo". Thần cơ pháo thực chất là súng thần công cỡ lớn được đặt cố định trên thành hoặc trên xe kéo cơ động. Việc chuẩn bị lực lượng quân sĩ, vũ khí và xây dựng các tuyến phòng thủ sẵn sàng ứng chiến.
Tháng tư năm Bính Tuất (1406), nhà Minh cử đại quân gồm 10 vạn ở Quảng Tây do Chính Nam tướng quân Hữu quân đô đốc đồng tri Hàn Quang, Tham tướng đô đốc đồng tri Hoàng Trung mượn cớ đem ngụy vương Trần Thiêm Bình về nước, núp dưới danh nghĩa "phù Trần diệt Hồ" để tiến hành xâm lược nước ta. Hồ Quý Ly một mặt chấp nhận đón rước ngụy vương, mặt khác đặt quân mai phục, bố trí lực lượng theo tuyến phòng thủ để tiêu diệt. Chi Lăng, Cần Trạm, Lãnh Kinh là những chốt quan trọng trên con đường từ Nam Quan về Đông Đô. Trên tuyến đường này có dòng sông Thương, sông Nguyệt Đức (sông Cầu) là những chiến hào thiên nhiên vững chắc. Hàng vạn quân Minh do Hàn Quang, Hoàng Trung cầm đầu hộ tống Thiên Bình ung dung theo đường bộ từ Pha Lũy (Đồng Đăng) qua Chi Lăng (Lạng Sơn), Cần Trạm (Kép, Bắc Giang) đến Lãnh Kinh (Đáp Cầu, Bắc Ninh).
Hồ Quý Ly chọn Lãnh Kinh làm quyết chiến điểm, ông đã bố trí đại quân tại đây do Hồ Nguyên Trừng chỉ huy, có các tướng Phạm Nguyên Khôi, Chu Bình Trung, Trần Nguyên Huyên, Trần Thái Bộc cùng tướng Hồ Vấn tham gia. Trong cuộc đụng độ ở Lãnh Kinh do chủ quan khinh địch, lúc đầu, quân nhà Hồ bị thất bại nặng nề, bốn tướng phải hy sinh, Hồ Nguyên Trừng bỏ thuyền lên bờ, suýt bị bắt, có người đưa xuống thuyền thoát được. Nhưng tướng Hồ Vấn đã kịp thời kéo quân đến ứng chiến, đánh úp, quân Minh chống không nổi, nửa đêm phải rút quân. Trên đường tháo chạy, Hoàng Trung gặp phục binh do tướng chỉ huy quân Thánh dực Hồ Xạ, Trần Đĩnh bố trí quân chặn đánh ở Cần Trạm, Chi Lăng. Tướng Hoàng Trung nhà Minh sai viên quân y Cao Cảnh Chiến đưa thư xin hàng, giao nộp tên ngụy vương Thiêm Bình, xin tha cho đi. Tướng Hồ Xạ chấp nhận bắt giữ Trần Thiêm Bình và nhiều tù binh. Quân Minh rút về nước.



