CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG QUÂN XÂM LƯỢC MÃ VIỆN (42 – 43): BẢN HÙNG CA BẤT TỬ CỦA HAI BÀ TRƯNG
Nguyễn Thùy Trang
Sau chiến thắng lẫy lừng năm 40 sau Công nguyên, nền tự chủ non trẻ của nước ta do Trưng Vương đứng đầu vừa dựng xây được hơn hai năm thì phải đối mặt với thử thách mất còn. Cuộc kháng chiến chống lại tập đoàn quân xâm lược sừng sỏ do Mã Viện chỉ huy (42 – 43) là một trang sử bi hùng, chứng minh khí tiết kiên cường và tinh thần thà chết chứ không chịu làm nô lệ của dân tộc Việt.
Thất bại thảm hại năm 40 khiến vua Hán Quang Vũ bàng hoàng và phẫn nộ. Nhằm đè bẹp chính quyền Mê Linh non trẻ, triều đình nhà Hán đã dồn toàn lực chuẩn bị một cuộc chiến tranh báo thù quy mô lớn. Vua Hán phong Mã Viện – một viên tướng già sừng sỏ, giàu kinh nghiệm trận mạc chỉ huy đại quân xâm lược. Mã Viện huy động hơn 2 vạn quân tinh nhuệ cùng hàng nghìn thuyền chiến, tập trung tại Trường Sa, Thương Ngô. Chúng hoạch định chiến lược hai mũi giáp công cực kỳ nguy hiểm: thủy quân men theo đường biển tiến vào cửa sông Bạch Đằng, trong khi bộ binh tràn qua đường Lạng Sơn.Trước thế giặc hung hãn, Trưng Vương cùng các nữ tướng kiệt xuất như Lê Chân, Thánh Thiên, Bát Nàn... đã khẩn trương củng cố các tuyến phòng thủ then chốt. Dù nền tự chủ mới vừa chớm nở hai năm, kinh tiềm lực còn hạn chế, nhưng toàn thể nhân dân Lạc Việt đều sắn sàng quyết chiến đến cùng để giữ vững cõi bờ.
Tháng 4 năm 42, đại quân Mã Viện tiến sâu vào cõi Việt. Trưng Vương trực tiếp cầm quân tiến ra vùng Lãng Bạc (khu vực Tiên Sơn, Bắc Ninh ngày nay) để chặn giặc. Tại đây, một trận đại chiến đẫm máu đã diễn ra. Quân ta dựa vào địa hình sông nước và sức mạnh dũng mãnh của đội voi chiến để chủ động tiến công. Tuy nhiên, Mã Viện là tay tướng vô cùng lão luyện. Hắn xua quân cố thủ kiên cố, vừa đánh vừa chia rẽ lực lượng ta. Do sự chênh lệch lớn về trang bị và kinh nghiệm chiến trường chính quy, quân ta bị tổn thất nặng nề. Dù Mã Viện sau này phải thừa nhận Lãng Bạc là nơi "trời khí nóng ẩm, nước độc, quân sĩ ngã bệnh chết rất nhiều", nhưng Trưng Vương vẫn buộc phải chủ động rút quân để bảo toàn lực lượng.
Từ Lãng Bạc, quân ta lui về giữ căn cứ Cổ Loa, rồi tiếp tục rút về Mê Linh. Nhận thấy địch ráo riết truy kích, Trưng Vương quyết định dời toàn bộ lực lượng chủ lực về Cẩm Khê (vùng Ba Vì, Hà Nội ngày nay).Cẩm Khê là vùng địa hình rừng núi hiểm trở, đầm lầy giăng lối, thích hợp cho lối đánh trường kỳ. Tại đây, suốt từ mùa hè năm 42 đến đầu năm 43, cuộc chiến giằng co vô cùng khốc liệt. Mặc dù rơi vào thế bị bao vây cô lập, thiếu hụt lương thảo trầm trọng, Trưng Vương cùng các tướng sĩ vẫn kiên cường bám trụ, đánh bật hàng chục đợt tấn công cuồng bạo của quân Hán.
Đầu năm 43 (tháng 3 năm 43, tức mùng 6 tháng 2 âm lịch), sau nhiều tháng vây hãm, thế trận Cẩm Khê rơi vào nguy ngập khi lực lượng ta kiệt cựu. Trưng Vương cùng các tướng sĩ mở đường máu rút về sông Hát (cửa sông Đáy, Phúc Thọ, Hà Nội) – chính là nơi ba năm trước Hai Bà đã lập bàn thờ tế cờ xuất quân. Trong khoảnh khắc sinh tử, để giữ trọn vẹn khí tiết, không rơi vào tay kẻ thù, Hai Bà Trưng đã gieo mình xuống dòng sông Hát tự thuẫn.Nối gót Hai Bà, các nữ tướng như Thánh Thiên, Lê Chân, Bát Nàn... cũng lần lượt tuẫn tiết hoặc chiến đấu đến giọt máu cuối cùng. Dòng sông Hát ngày ấy đã chứng kiến sự hóa thân bi hùng của những người con ưu tú nhất xứ Lạc Việt vào lòng đất mẹ.
Sự hy sinh của Hai Bà Trưng đã định hình nên chuẩn mực cao nhất về lòng yêu nước và khí tiết dân tộc: thà chết tự do chứ nhất quyết không chịu quỳ lụy sống kiếp nô lệ.Tinh thần kiên cường ấy không bị dập tắt, mà trở thành ngọn lửa âm bỉ cháy qua suốt một ngàn năm Bắc thuộc, tiếp thêm sức mạnh cho các cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu, Lý Bôn, Mai Thúc Loan, Ngô Quyền... sau này.



