Cuộc Kháng chiến giai đoạn 1946-1954 tại Mỹ Nhơn
Ngày 8/2/1946 (nhằm ngày mồng 7 tết Bính Tuất), tàu chiến chở một đại đội lính Pháp có máy bay và trọng pháo yểm trợ đổ bộ lên bến Trại già (xã An Đức, huyện Ba Tri) rồi chia làm hai hướng tiến vào thị trấn Ba Tri. Từ đây, địch tăng cường ruồng bố, đóng đồn bót theo lộ thị trấn – Tân Xuân và dọc tỉnh lộ 26. Sau khi thiết lập bộ máy ngụy quyền cấp quận và bộ máy tềtại thị trấn, địch tiến hành bố trí quân thành các cụm chiến đấu với khoảng cách đều nhau, ở các nơi xung yếu và từng bước mở rộng địa bàn chiếm đóng theo chiến thuật vết dầu loang. Địch vừa dùng biện pháp dụ dỗ, mua chuộc, vừa đe dọa lôi kéo lực lượng tay sai để lập Ban hội tề. Lợi dụng tình hình này, ta đã đưa những người tốt tham gia vào Ban hội tề để làm cơ sở về sau.
Chiều ngày 23/9/1946 âm lịch (nhằm ngày 17 tháng 10 năm 1946), một chiến sĩ Quốc gia tự vệ cuộc chạy sang đầu hàng địch đã dẫn lính chặn đường bắt các đồng chí trong Ủy ban kháng chiến từ Lạc địa lên nhà ông Đỗ Văn Siêng tại đầu giồng để họp. Nhận được tin, sau khi làm ám hiệu, ông Siêng tìm cách chạy ra khỏi nhà nhằm đánh lạc hướng giặc, chúng đuổi theo và bắn chết ông Siêng. Hành động dũng cảm của ông Siêng đã giúp các đồng chí trong Ủy ban kháng chiến quay trở về khu Lạc địa an toàn.
Ngày 19/12/1946, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Hưởng ứng lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tỉnh ủy Bến Tre chủ trương:
- Củng cố lại các cơ sở Đảng, hệ thống tổ chức và hệ thống chính quyền, nhanh chóng phát triển đảng viên mới, chú trọng công tác tổ chức quần chúng, đẩy mạnh công tác địch ngụy vận.
- Thực hiện bao vây kinh tế địch, bảo vệ kinh tế vùng giải phóng, tạm cấp ruộng đất cho nông dân nghèo.
- Phát triển lực lượng vũ trang, đẩy mạnh công tác trừ gian diệt tề.
- Xây dựng nông thôn mới, nếp sống mới.
Đáp lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch: “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”…, 27 thanh niên Mỹ Nhơn là Lê Quang Cai (Sáu Cai), Lê Quang Nghĩa (Chín Nghĩa), Đỗ Văn Bay (Bảy Bay), Lê Quang Đời…đã hăng hái tòng quân giết giặc, tự nguyện tham gia vào Vệ quốc đoàn, chủ yếu vào trung đoàn 99 của tỉnh.
Tháng 3/1947, Pháp đưa quân đánh chiếm Ba Mỹ (Mỹ Thạnh, Mỹ Nhơn, Mỹ Chánh Hoà) và đóng đồn tại nhà cả Vinh ở Mỹ Chánh Hoà.
Tháng 6/1947, thực dân Pháp lập căn cứ đạo Cao đài ở Ba Mỹ, âm mưu dựa vào lực lượng Cao Đài để khủng bố, tiến tới tiêu diệt căn cứ và lực lượng cách mạng ở Ba Mỹ nên đã tổ chức trận càn quy mô vào Mỹ Nhơn, kêu gọi đạo hữu về thành lập căn cứ đạo ở ấp I chợ Mỹ Nhơn do Hồ Văn Kính cầm đầu. Chúng tiến hành vơ vét cướp của của Nhân dân, dỡ nhà những người tham gia kháng chiến để xây dựng lô cốt, thánh thất (kể cả bàn thờ tổ tiên chúng cũng lấy). Chúng lập Ban hương đạo do Phạm Văn Hương làm Đầu hương và tập hợp nam tín đồ thành lập một trung đội do Vệ uý Phan Văn Cựa chỉ huy, tổ chức ruồng bố ban đêm nhằm tiêu diệt phong trào cách mạng. Mặt khác, chúng còn bắt những gia đình có người thân đi kháng chiến phải cất chòi xung quanh căn cứ đạo, tối đến ngủ, sáng về; khi chúng hành quân vào vùng tự do của ta, gia đình cách mạng phải đi trước để làm bia đỡ đạn cho chúng.
Năm 1948, Trung ương chủ trương thống nhất Ủy ban kháng chiến và Ủy ban hành chính thành Ủy ban kháng chiến kiêm hành chính, tổ chức này được duy trì đến khi cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc thắng lợi. Ủy ban kháng chiến kiêm hành chính làng Mỹ Nhơn do đồng chí Phạm Văn Kính làm Chủ tịch, đồng chí Phạm Công Thuận làm phó Chủ tịch, tiếp tục lãnh đạo Nhân dân Mỹ Nhơn kháng chiến chống Pháp. Bắt đầu từ đây, để thống nhất với toàn quốc, ta gọi huyện thay cho quận, xã thay cho làng đã thông dụng từ trước. Về phía địch, chúng vẫn gọi là quận và làng như cũ.
Sau khi xây dựng xong căn cứ đạo, cuối năm 1948, địch đưa quân đến chiếm đóng Mỹ Nhơn. Thực hiện chỉ đạo của Tỉnh ủy, Mỹ Nhơn đã thành lập phái đoàn Quân - Dân - Chánh ở lại bám địa phương, lực lượng kháng chiến của xã dựa vào căn cứ Lạc địa để ra vào bám xã ấp, duy trì phong trào. Bộ đội Hồ Chấn về đóng tại xã đã phối hợp với du kích đón đánh địch tại đình Mỹ Nhơn, tiêu diệt được hàng chục tên; phía ta, hy sinh một du kích là đồng chí Phạm Văn Bon.
Đầu năm 1949, lính Léon Leroy tổ chức tổng ruồng từ Bình Đại sang Ba Tri bắn giết người man rợ, đốt nhà, cướp bóc tài sản của Nhân dân địa phương. Tại Mỹ Nhơn, chúng đốt nhà Chín Tề, Tư Phó, Bảy Hạng, Bảy Đội, Mười Nhì, Bảy Bự… Tàn bạo hơn là sau khi cướp của, chúng bắt nhiều người dân vô tội đem đi chặt đầu như Lê Văn Nhương, Lê Văn Nghễ, Phùng Văn Lường, Nguyễn Văn Tống, Lê Văn Xề, Phạm Văn Cưỡng, Nguyễn Văn Ngợi; bắn chết hai nông dân là Hai Nhịn và Tư Tầm. Chúng bắt Lê Quang Mờn dẫn ngang qua cầu Vĩ, bắn chết rồi ném xác xuống rạch cho nước cuốn trôi mất xác. Cùng thời gian trên, Đào Văn Tiết là cán bộ quân lương, có nhiệm vụ vận chuyển lương thực từ Mỹ Nhơn về khu Lạc địa. Trên đường đi, chẳng may ông bị sa vào tay giặc. Ông nhanh trí bảo rằng tất cả lương thực ông cất giấu ở nhà nên bọn địch theo ông về nhà, nhưng khi kiểm tra địch không phát hiện được gì. Chúng mang ông ra đánh đập khảo tra nhưng không nhận được lời khai báo nào, cuối cùng, địch đã bắn chết ông trước mặt những người thân trong gia đình. Sự hy sinh dũng cảm của ông đã giúp ta bảo toàn được kho lương ở căn cứ Lạc địa.
Bên cạnh những hành động man rợ của lính Léon Leroy thì lực lượng tề, tổng trong xã tha hồ giết chóc, bức hại Nhân dân. Ban ngày chúng tăng cường càn quét, lục soát; ban đêm chúng thường xuyên phục kích các con đường chúng nghi cán bộ ta thường đi lại làm cho cán bộ đảng viên và Nhân dân sống khó khăn, vất vả do thiếu lương thực, thực phẩm, thuốc men … Trước tình hình trên, một bộ phận cán bộ đảng viên Mỹ Nhơn đã ly xã sang giồng Ớt xã An Thuận huyện Thạnh Phú, số còn lại bám căn cứ Lạc địa và dựa vào dân tiếp tục hoạt động, duy trì phong trào.
Tháng 11/1949, địch phát hiện lực lượng ta, chúng tổ chức những cuộc tổng ruồng cấp tiểu đoàn và trung đoàn, chà đi xát lại khu vực ven sông Ba lai, đánh cắt đôi các khu vực rạch Vọp, cù lao Lá, khu Lạc Địa, bàu Dơi; đóng đồn bót, bắt dân phá rừng đắp lộ, phục vụ cho nhu cầu quân sự của chúng. Tại khu Lạc địa, du kích Mỹ Nhơn kết hợp với du kích Phú Lễ và An Bình Tây xây dựng thế trận chiến đấu, bọn địch tấn công nhiều lần không hiệu quả nên rút lui, ta bảo vệ được căn cứ. Hai tiểu đội du kích Mỹ Nhơn phối hợp với phân đội 99 đánh trận ngã ba Cồn Quy, thu được 2 súng; bọn lính quăng súng xuống đìa bỏ chạy, hôm sau du kích xuống mò vớt được 7 súng (gồm 2 súng hoả mai, 4 súng trường, 1 tiểu liên), phân đội 99 tặng lại du kích Mỹ Nhơn 2 súng.
Tháng 12/1949, Tỉnh ủy, Ủy ban kháng chiến hành chánh tỉnh họp tại giồng Sâu (xã Tân Hào – Giồng Trôm) đã chủ trương tinh giản bộ máy hành chính các cấp, đưa cán bộ về cơ sở, một số cán bộ không có điều kiện về bám địa phương thì sang Vĩnh Trà hoặc đi khu 9. Thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy, cuối tháng 12/1949, Huyện ủy Ba Tri tổ chức hội nghị mở rộng tại rạch Bùn (vùng giải phóng của Thạnh Phú) do đồng chí Võ Văn Phẩm – Bí thư Huyện ủy chủ trì. Hội nghị nhất trí và quyết tâm về bám địa phương, đưa bộ phận tiền tiêu về lập căn cứ lo nơi ăn chốn ở cho các ban ngành và lực lượng về sau. Tổ chức bộ máy cấp xã được củng cố lại theo cơ chế tinh gọn về số lượng, mỗi đồng chí làm được nhiều việc, vừa có khả năng vận động quần chúng, vừa xây dựng phong trào, tham gia chiến đấu… Mỗi xã thành lập đoàn Quân - Dân - Chánh (khoảng 5 - 7 đồng chí) do đồng chí Bí thư chi bộ làm trưởng đoàn.
Từ giữa năm 1950, hoạt động theo kiểu “vọt cần câu” (về xã rồi lại đi, ít lâu sau lại về xã và lại đi) không đạt hiệu quả cao, nhiều cán bộ, đảng viên hy sinh. Để duy trì cuộc kháng chiến trong tình hình địch đẩy mạnh bình định, theo sự chỉ đạo của trên và thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy, những đồng chí không có điều kiện trở về xã thì đi giản chính ở Cà Mau, Trà Vinh…. tiếp tục hoạt động, chờ thời cơ, những cán bộ ở Mỹ Nhơn có khả năng bám trụ như Bùi Văn Mít, Trần Văn Tiên, Phan Văn Soái, Lê Văn Thại và một số đồng chí khác… thì về bám lại địa phương để lãnh đạo phong trào; bám quần chúng thực hiện công tác ngụy địch vận; duy trì chiến tranh du kích đánh địch tại chỗ, chống phá âm mưu lấn chiếm, bình định giành dân. Trên đường về, đồng chí Phan Văn Tép hy sinh khi qua sông Hàm Luông. Đi vào củng cố, đồng chí Bùi Văn Mít được cử làm Bí thư chi bộ, đồng chí Trần Văn Tiên phó Bí thư, các đồng chí tiếp tục bám vào dân để hoạt động. Dù đời sống khó khăn nhưng Nhân dân vẫn vững niềm tin, hưởng ứng mua “công phiếu kháng chiến”, lập các “hũ gạo nuôi quân” tiếp tế lương thực, thực phẩm, thuốc men, che chở, đào hầm để các đồng chí ẩn nấp hoạt động. Nhờ thế mà Đảng và cách mạng vẫn tồn tại trong điều kiện khó khăn, tiếp tục phát triển và ngày càng trưởng thành hơn, mối quan hệ giữa cán bộ và quần chúng càng gắn bó hơn.
Huyện ủy ra nghị quyết các xã phải bám rừng, dựa vào dân, xây dựng hầm bí mật trong nhà để ăn ở, hoạt động tại xã ấp. Thực hiện chủ trương trên nhưng do địa hình Mỹ Nhơn không có rừng nên cán bộ phải ở ngoài đồng, bám các mô đìa, đồng chí Chín Mít – Bí thư chi bộ xã, thì dựa vào một số tín đồ trong thân tộc để hoạt động. Mỹ Nhơn là một trong hai xã của huyện Ba Tri được nêu gương điển hình trong quá trình thực hiện kế hoạch bám dân. Từ năm 1951, đoàn Quân – Dân – Chánh của Mỹ Nhơn đã đẩy mạnh công tác địch vận kết hợp với công tác trừ gian, diệt ác và vận động quần chúng để phân hóa hàng ngũ địch. Ban trừ gian tổ chức bắt tên Ba và Tám Nhỏ dẫn ra cù lao Lá, sau khi khai thác xong, ta thủ tiêu hai tên tề ác ôn. Hai tên tề đã bị diệt, quần chúng vô cùng phấn khởi, tiếp tục ủng hộ và bảo vệ cán bộ.
Năm 1952, lính Léon Leroy tổ chức phá căn cứ Lạc địa, đóng đồn bót dày đặc, du kích xã phải dạt xuống Bảo Thạnh, bám căn cứ của huyện để hoạt động. Hai tiểu đoàn của Leroy đến vây ráp, đóng đồn vùng ven biển, các đồng chí phải ăn cháo, rau rừng thay cơm. Khó khăn gian khổ nhưng các đồng chí vẫn kiên trì, giữ vững niềm tin tiếp tục công tác.
Giữa năm 1952, cuộc họp Huyện ủy mở rộng được tổ chức tại rừng Bảo Thạnh, có các đồng chí Bí thư chi bộ, cán bộ Quân - Dân - Chánh các khu vực trong huyện tham dự. Tại hội nghị này, Mỹ Nhơn là một trong 5 xã được chọn báo cáo điển hình về “phương pháp nắm tình hình, vận động quần chúng, nguyên tắc bí mật trong ăn ở hoạt động và trong xây dựng phát triển hệ thống cơ sở, việc kết hợp công tác vận động và trấn áp địch, tầm vận động trong công tác vận động tôn giáo”. Đến cuối năm 1952, tình hình có nhiều thuận lợi hơn, cơ sở cách mạng được phục hồi và xây dựng mới, phong trào du kích chiến tranh, trừ gian diệt tề phát triển, du kích từ chỗ phản kích địch đã chuyển lên thế bao vây đồn bót. Lực lượng thanh niên tham gia bộ đội ngày càng đông, phong trào trốn lính và lính trốn ngày càng nhiều và rộng khắp trong xã. Từ năm 1953, các cơ quan ban ngành được thành lập, không còn hình thức phái đoàn Quân - Dân - Chánh như trước, những vùng do ta làm chủ, cán bộ và bộ đội đi lại dễ dàng, hoạt động thuận lợi hơn trước, chiến tranh du kích diễn ra liên tục làm cho địch hoang mang.
Cuối 1953, chiến trường chính ở Bắc Bộ đã phản công mạnh, Trung ương Đảng chỉ đạo các chiến trường Nam Bộ cùng phối hợp hoạt động để kìm chân địch, chuyển vùng mở mảng. Thực hiện chỉ đạo trên, Tỉnh ủy Bến Tre họp hội nghị và ra Nghị quyết phát động trong toàn tỉnh “Lấy công tác địch ngụy vận làm công tác trung tâm kết hợp với nổi dậy của quần chúng và tác chiến của lực lượng vũ trang, đánh trúng vào khâu yếu của địch, chuyển vùng bị chiếm thành vùng du kích và vùng giải phóng”.
Đầu năm 1954, phong trào du kích chiến tranh phát triển mạnh, công tác ngụy vận lên cao, khí thế trong Nhân dân sôi sục. Chi bộ tăng cường xây dựng lực lượng, củng cố đội du kích nhằm kết hợp đấu tranh chính trị, dân vận với vũ trang, uy hiếp tinh thần địch. Trong lúc phong trào đang trên đà phát triển mạnh, công tác mở mảng chuyển vùng vẫn đang tiến hành thì chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi chiều ngày 7/5/1954. Thất bại này buộc thực dân Pháp phải chấp nhận ký hiệp định Giơnevơ ngày 20/7/1954, chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược và rút quân viễn chinh về nước.
Chín năm kháng chiến gian khổ đã để lại những bài học kinh nghiệm quý báu về bám đất, bám dân, về xây dựng lực lượng, tiến hành kháng chiến, tạo tiền đề cho đảng viên và Nhân dân Mỹ Nhơn bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ.



