CUỘC KHỞI NGHĨA NAM KỲ Ở MỸ THO THÁNG 11 NĂM 1940

Ngày 1-9-1939, phát xít Đức tấn công Ba Lan. Chiến tranh Thế giới thứ 2 bùng nổ. Ngày 26-9-1939, Tổng thống Pháp ra lệnh giải tán Đảng Cộng sản Pháp thì chỉ 2 ngày sau đó Toàn quyền Đông Dương ký Nghị định đánh vào Đảng Cộng sản Đông Dương và các tổ chức quần chúng do Đảng lãnh đạo.

Ở Mỹ Tho, chúng tiến hành phát xít hóa bộ máy cai trị; lực lượng mật thám, cảnh sát được tăng cường, đồn bót được xây dựng thêm. Tình cảnh của các tầng lớp lao động vô cùng điêu đứng. Các xưởng máy tăng giờ làm việc: từ 8 giờ/ngày vào những năm 1936 - 1939 thì nay phải làm từ 10 giờ đến 12 giờ/ngày. Ở khu vực nông thôn thì chúng tăng thuế ruộng, có loại tăng đến 8 lần, đặt thêm thuế mới, thuế quốc phòng, thuế phòng thủ, thuế cư ngụ, thuế thổ cư; có cả những thứ thuế hết sức vô lý như thuế ma chay, thuế bốc mộ…
Mức lương tối thiểu của công nhân đàn ông là 0,50 đồng, đàn bà là 0,38 đồng, thiếu niên nam, nữ là 0,25 đồng và 0,18 đồng 1 ngày công. Trong khi chi phí cần thiết tối thiểu cho 1 công nhân sinh sống là 0,80 đồng.
Người nông dân cũng lâm vào cảnh vô cùng bi đát, lúa làm ra phải nộp tô, nộp thuế, trả nợ nên không đủ ăn. Hàng tiêu dùng thì giá cả tăng vọt. Một số địa phương, nông dân phải mặc bố tời hay quàng bằng đệm bàng.
Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 6 (11 - 1939) quyết định sự chuyển hướng chiến lược, xác định giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu của cách Đông Dương và đề ra khẩu hiệu tịch thu ruộng đất của bọn địa chủ, bọn tay sai phản động và quyết định thành lập Mặt trận Dân tộc phản đế Đông Dương thay cho Mặt trận Dân chủ Đông Dương.
Trước tình hình mới, Tỉnh ủy Mỹ Tho chủ trương cán bộ hoạt động hợp pháp, nửa hợp pháp rút vào bí mật, chuyển trọng tâm công tác về nông thôn. Tiến hành vận động, tập hợp quần chúng vào các hội trong Mặt trận phản đế. Nhiều ủy ban vận động Mặt trận Thống nhất dân tộc phản đế được thành lập để tuyên truyền, phổ biến cương lĩnh của Mặt trận và thành lập Mặt trận từ xã lên huyện, tỉnh.
Lúc này, phong trào đấu tranh của quần chúng vẫn liên tiếp nổ ra dưới nhiều hình thức, như mít tinh, bãi công, rải truyền đơn nhằm giải thích các chính sách của Đảng, kêu gọi nhân dân đấu tranh chống đế quốc, đòi tăng lương, ngày làm 8 giờ, chống bắt lính, đòi tăng lương cho binh lính.
Tháng 3 - 1940, thực dân Pháp bắt lính tập trung về Mỹ Tho đưa đi Sài Gòn để đi đánh Xiêm. Được tin này, hàng trăm bà mẹ, trẻ em và người già ra đường từ Mỹ Tho đến Trung Lương, đòi chồng, đòi con, nhiều người đã lăn ra đường cản không cho xe chạy.
Cũng trong tháng 3 - 1940, Tỉnh ủy nhận được Đề cương bạo động của Xứ ủy và đến khoảng giữa tháng 4, sau khi đồng chí Phan Văn Khỏe cùng đồng chí Lê Quang Sô đi dự Hội nghị Bến Lức (Hội nghị cán bộ toàn Xứ do đồng chí Võ Văn Tần - Bí thư Xứ ủy chủ trì, nội dung bàn về khởi nghĩa võ trang) trở về, Tỉnh ủy đã xúc tiến mạnh và toàn diện việc chuẩn bị khởi nghĩa.
Tháng 4 -1940, Tỉnh ủy trực tiếp lãnh đạo quần chúng từ các nơi kéo về biểu tình ở thị xã Mỹ Tho. Lực lượng tham gia có khoảng 4.000 người mang theo các khẩu hiệu:
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
- Không được bắt lính đưa đi ngoại quốc.
- Bằng lòng ở lại phòng thủ Đông Dương, chống phát xít Nhật.
- Tăng tiền lương cho binh lính.
Cuộc biểu tình đã gây chấn động lớn trong nhân dân tỉnh Mỹ Tho.
Tỉnh ủy đặc biệt quan tâm đến vấn đề khôi phục và phát triển cơ sở Đảng và các hội phản đế trong Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương, coi đó là yếu tố quyết định sự thành bại của cuộc khởi nghĩa. Tháng 10 - 1940, toàn Đảng bộ đã có hơn 70 chi bộ và chi bộ ghép với tổng số đảng viên là 456 đồng chí (so với cuối năm 1939 (52 đảng viên), số đảng viên tăng gấp 9 lần, số chi bộ tăng gấp 6 lần). Các quận đều có quận Đảng bộ hoặc Ban cán sự Đảng, hoặc liên chi bộ phụ trách. Toàn tỉnh đã có hơn 20.000 hội viên các hội phản đế.
Việc thứ hai là xây dựng lực lượng võ trang và lập căn cứ cách mạng ở Ba U.
Cùng với việc khôi phục và phát triển cơ sở Đảng, đoàn thể quần chúng, Đảng bộ còn quan tâm chỉ đạo xây dựng lực lượng võ trang và lập căn cứ cách mạng. Ở nông thôn thì lập đội du kích; ở thành phố, hãng xưởng thì lập đội tự vệ; ở căn cứ có đơn vị du kích tập trung.
Trong hoàn cảnh đó, việc chuẩn bị khởi nghĩa, xây dựng lực lượng võ trang phải hết sức bí mật; song việc vận động lực lượng võ trang không đáp ứng được yêu cầu của Nghị quyết tỉnh Đảng bộ đề ra. Đảng bộ đã lợi dụng sự cho phép của chính quyền cai trị cho học tập võ nghệ, thành lập các đội chống cướp, bảo vệ xóm làng, đưa thanh niên được lựa chọn làm võ sinh các lò võ, đồng thời tuyên truyền giáo dục và định hướng cho các võ sư biến các lò võ thành những lớp huấn luyện quân sự nhỏ. Nhiều xã có lò võ, có xã có đến 2 - 3 lò. Nhiều võ sư, võ sinh sau này trở thành lãnh đạo, chỉ huy như Hà Tôn Hiến, Trần Văn Cẩm, Nguyễn Văn Lộc, Nguyễn Văn Ty v.v…
Đến tháng 10 - 1940, hầu hết các xã đều có lực lượng du kích, mỗi xã trung bình có 1 trung đội du kích. Toàn tỉnh có gần 3.000 du kích. Ngay trong Thị xã Mỹ Tho, xưởng mộc Tràng Tiền cũng có 1 trung đội tự vệ.
Căn cứ Ba U được chuẩn bị khá quy mô. Có 3 khu:
Khu Mạc Xây: nơi sản xuất vũ khí.
Khu Paris: khu hậu cần, dự trữ lương thực, thuốc men, may cờ, in tài liệu.
Khu Đà Lạt: nơi trực tiếp đón các đồng chí từ ngoài vào dự họp.
Ngoài căn cứ của tỉnh còn có các căn cứ của huyện Châu Thành, Cai Lậy, Cái Bè. Căn cứ Ba U còn là nơi huấn luyện quân sự, đào tạo cán bộ chỉ huy cho lực lượng vũ trang tỉnh.
Để thực hiện tốt 2 nhiệm vụ trên, Đảng bộ chỉ đạo tập trung vào những công việc cụ thể có ý nghĩa mấu chốt như vấn đề vũ khí, huấn luyện quân sự, việc thành lập Ban chỉ huy quân sự và ngọn cờ hiệu triệu(1).
Ngày 12-8-1940 Ban chỉ huy quân sự tỉnh cử đồng chí Nguyễn Hữu Thường, Thường vụ Tỉnh ủy làm chỉ huy trưởng. Ban Chỉ huy quân sự gồm 4 ban:
- Ban tham mưu: đồng chí Nguyễn Hữu Thường, kiêm tham mưu trưởng.
- Ban quân nhu: đồng chí Nguyễn Văn Tân.
- Ban quân báo: đồng chí Trần Bá Thọ.
- Ban phá hoại: 2 đồng chí Nguyễn Văn Ghè và Lê Văn Quới.
Công việc chuẩn bị khởi nghĩa được Đảng bộ Mỹ Tho chuẩn bị khá chu đáo và toàn diện. Các biện pháp bảo đảm bí mật được nghiêm túc thực hiện. Do vậy, khi kế hoạch khởi nghĩa của Xứ ủy đã bị bại lộ, Thống đốc Nam kỳ đã có công văn khẩn gởi các tỉnh từ ngày 11 - 11 - 1940 và sau đó 10 ngày, vào lúc 5 giờ chiều ngày 22 - 11 gửi tiếp điện khẩn cho Mỹ Tho về “âm mưu nổi dậy của cộng sản”, nếu có nổi dậy thì thẳng tay đàn áp; nhưng ở Mỹ Tho vẫn yên tĩnh. Công việc chuẩn bị khởi nghĩa vẫn tiếp tục một cách khẩn trương. Thực tế ở Mỹ Tho trong quá trình chuẩn bị khởi nghĩa, từng bước phong trào cách mạng đã vô hiệu hóa bộ máy tề ngụy ở xã bằng giáo dục, bằng áp lực quần chúng (xã Long Hưng, huyện Châu Thành có 12 tề xã thì 4 người đã ngả về cách mạng, 5 người lưng chừng, còn lại 3 tên ác ôn thì bị ta khống chế). Từ đó nảy sinh một thực tế, kẻ địch đi tuần tra chỉ nghễu nghện trên quan lộ mà không dám đi vào thôn xóm. Nhờ vậy mà lực lượng khởi nghĩa được bảo vệ an toàn và giữ bí mật đến giờ phút chót, tạo được yếu tố bất ngờ trong khởi nghĩa; cũng vì vậy, nên khi có lệnh khởi nghĩa, mặc dù lệnh khởi nghĩa đến Mỹ Tho quá muộn, chỉ trước giờ G có 2 giờ, nhưng chỉ sau đó 3 giờ, tức là vào 1 giờ sáng ngày 23-11-1940, lực lượng du kích huyện Châu Thành do đồng chí Trần Hữu Danh (Sáu Danh) chỉ huy đã bao vây đánh đồn Thạnh Phú, diệt tên bếp, bắt tên cai trưởng đồn Bùi Văn Trí và bắt tên bếp Lê Văn Khương làm chủ đồn Thạnh Phú. Lực lượng các xã Thân Cửu Nghĩa, Long An, Trung An phối hợp với lực lượng du kích do đồng chí Nguyễn Thị Thập chỉ huy từ rừng Ba U kéo ra mang theo cờ, khẩu hiệu, vũ khí thô sơ, nổi trống mõ, pháo tre kéo ra đánh đồn Chợ Bưng vào lúc 7 giờ sáng ngày 23. Trước đó 1 giờ (tức 6 giờ sáng), lực lượng của đồng chí Nguyễn Văn Ghè cùng với lực lượng xã Nhị Bình, Long Định, Long Hưng (huyện Châu Thành) đánh đồn Long Định…
Trong 3 ngày từ 23 đến 25 -11, đã có 75/114 xã nổi dậy giành quyền làm chủ. Nếu chỉ tính các huyện trên đất liền, số xã nổi dậy chiếm tỷ lệ 75% (70/93 xã). Trong quá trình khởi nghĩa, đội du kích đã đánh chiếm 11 đồn bót, diệt 23 tên, thu được 34 súng, bảo vệ tốt việc chia lúa cho tá điền và dân nghèo, bảo vệ tốt các phiên tòa cách mạng xử trị bọn ác ôn, đánh phá hư hỏng gần 20 cầu sắt và cầu đúc, hạ cây, hàn kênh, hàn sông, phá hàng trăm cột dây thép.
Sự chuẩn bị khá chu đáo đã tạo điều kiện cho các mũi tiến công không quá bị động khi tình thế biến chuyển không theo ý đồ đã định; như kế hoạch đột nhập Thị xã Mỹ Tho của lực lượng 2 huyện Chợ Gạo và Châu Thành với gần 4.000 người do đồng chí Lê Quang Sô chỉ huy đã áp sát thị xã, chờ khi có lệnh là vượt cầu phao qua rạch Bảo Định, phối hợp với lực lượng nội ô đánh chiếm thị xã. Đợi đến 2 ngày mà vẫn chưa có lệnh số 2, cầu Bến Lức không bị đánh sập, ban lãnh đạo đã chỉ đạo chuyển hướng về khởi nghĩa ở nông thôn. Khi chiều hướng thất bại đã thấy rõ, ban lãnh đạo khởi nghĩa tỉnh đã chỉ đạo lực lượng các nơi rút vào các căn cứ để bảo toàn lực lượng. Ở Mỹ Tho hình thành 7 trung tâm chống càn quét: Tại Thân Cửu Nghĩa do Nguyễn Văn Chương (Hương Bổn Chương) lãnh đạo; Tam Hiệp do Nguyễn Văn Phá (Ba Phá) lãnh đạo; Long Hưng - Vĩnh Kim - Thạnh Phú - Bình Đức do Lê Văn Giác (tức Năm Giác), Nguyễn Văn Ghè (tức Bảy Ghè), Lê Văn Quới lãnh đạo; Long Trung do Lưu Hắc Hiến (tức Hà Tôn Hiến) lãnh đạo; Tân Lý Đông do Nguyễn Văn Mè (tức Bảy Mè) lãnh đạo; Mỹ Hạnh Đông do Lê Văn Thơ - Bí thư xã lãnh đạo; Tân Hòa Thành do Phạm Văn Kỳ (tức Mười Kỳ) lãnh đạo.
Việc tổ chức cho lực lượng du kích rút vào Đồng Tháp Mười giữ gìn lực lượng và chiến đấu, các lực lượng vũ trang này tồn tại đến tận năm 1945, rồi trở về các xã ven Đồng Tháp Mười tham gia với lực lượng tại chỗ, giành quyền làm chủ ngay sau khi Nhật đảo chính Pháp (9-3-1945).
Tuy cuộc Khởi nghĩa Nam kỳ thất bại và bị thực dân Pháp đàn áp khốc liệt, hàng ngàn chiến sĩ cách mạng bị giết, bị tù đày, hàng ngàn quần chúng cách mạng bị đàn áp, hàng loạt cơ sở cách mạng bị tan rã(1) đã ảnh hưởng không ít đến cao trào kháng Nhật cứu nước, chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa Tháng Tám. Tuy nhiên, cuộc khởi nghĩa đã để lại những kinh nghiệm hết sức quý báu.
Cuộc khởi nghĩa Nam kỳ ở Mỹ Tho để lại một dấu ấn sâu đậm trong lòng nhân dân Mỹ Tho. Thực tiễn của cuộc khởi nghĩa ở Mỹ Tho đã để lại những bài học cụ thể và thiết thực. Những bài học đó đã được vận dụng một cách sinh động trong quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, bài học lớn về khởi nghĩa từng phần, về khởi nghĩa đồng loạt được áp dụng một cách sáng tạo trong Cách mạng Tháng Tám-1945 và Đồng khởi năm 1960. Bài học về công tác binh vận, về tòa án cách mạng cũng được vận dụng trong khâu vừa trừng trị vừa giáo dục bọn ác ôn, tạo điều kiện cho nhân dân đứng lên Đồng khởi trong năm 1960.
Nguồn: Địa chí tỉnh Tiền Giang
(1) Về lá cờ ngay từ cuối năm 1939, trong quá trình vận động mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân để hướng tới mục tiêu hàng đầu là giải phóng dân tộc, Đảng bộ đã tiếp nhận nhiều ý kiến của các tầng lớp nhân dân, trong đó có nhân sĩ trí thức, đại biểu các đảng phái khác là nên có một ngọn cờ chung đại diện cho toàn dân tộc, một ngọn cờ mặt trận mà sau này có thể sẽ là ngọn cờ Tổ quốc. Những ý kiến đó phù hợp với tư tưởng của Xứ uỷ. Đồng chí Phan Văn Khỏe - Thường vụ Xứ uỷ, Bí thư Tỉnh uỷ Mỹ Tho đem suy nghĩ đó trao đổi với nhiều đồng chí trong Đảng bộ Mỹ Tho và quyết định giao nhiệm vụ vẽ mẫu cờ cho đồng chí Lê Quang Sô.
Đầu năm 1940, đồng chí Lê Quang Sô cùng với đồng chí Hồ Tri Hạ đã hoàn thành mẫu cờ nền đỏ sao vàng năm cánh và giao cho đồng chí Phan Văn Khỏe trình Xứ ủy.
Trong thời gian từ tháng 4 năm 1940 trở đi, các khẩu hiệu, truyền đơn đều có vẽ hình ngôi sao 5 cánh. Mẫu cờ được Xứ ủy chấp thuận trong hội nghị Tân Hương (Châu Thành, Mỹ Tho) tháng 7 năm 1940.
(1) Để đàn áp cuộc khởi nghĩa ở Mỹ Tho, tên Thống đốc Nam kỳ đã sử dụng cả lực lượng không quân, thuỷ quân và pháo binh. Có lần chúng sử dụng đến hơn 30 máy bay ném bom, riêng cuộc ném bom chợ Giữa - Vĩnh Kim, chúng đã giết hơn 100 người. Trong tháng 12-1940, chúng đã vây bắt 3.000 người (so với số người bị bắt tàon Nam kỳ thì Mỹ Tho chiếm 50%).


