Cuộc khởi nghĩa Tây Sơn và câu chuyện Nguyễn Huệ “Bắc Đẩu”
Trước năm 1975, mỗi dịp Tết âm lịch, văn gia và dân chúng miền nam thường làm lễ kỷ niệm chiến thắng Tết Kỷ Dậu (31/1/1789) của Quang Trung Nguyễn Huệ (1753-1792). Đây là một trong những võ công vệ quốc lịch sử của dân tộc Việt chống lại âm mưu thôn tính của bắc phương từ ngày giành được độc lập năm 939–sau khi Ngô Quyền (898-944) phá quân Nam Hán ở sông Bạch Đằng (theo Nguyễn Trãi, còn gọi là sông Vân Cừ), khai sinh ra một vương quốc mới, tức Đại Việt (từ năm 1054) hay Việt Nam (từ năm 1804). (1)
Võ công Kỷ Dậu lừng lẫy này–ngoài tư liệu Trung Hoa và quốc sử Lê-Nguyễn–còn có thêm tư liệu Pháp, qua các nhà truyền giáo ở Đại Việt hay Xiêm La, và tư liệu Lào-Thái Lan, giúp tái dựng một cách khá trung thực, khác hẳn mối bang giao Hán-Việt trước thế kỷ XVI. Tuy nhiên, vẫn còn những khoảng trống cần được điền vào hoặc sửa chữa lại trong tương lai. Lý do thứ nhất là trong khi viết ra những tài liệu tuyên truyền cho sự chính thống của họ Nguyễn (1802-1945), hay nhà Thanh (Qing, 1644-1912), sử quan Nguyễn và Thanh chỉ nhấn mạnh vào công đức của Nguyễn Chủng (Gia Long, 1802-1820) hay Ái Tân Giác La Hoằng Lịch (Quainlong [Càn Long] tức Cao Tông, 1736-1796, TTH, 1796-1799). Trong khi đó, tài liệu truyền giáo Ki-tô hay “sử” Lào và Thái Lan nghiêng về phía Nguyễn Chủng–một chư hầu của Rama I. Mặc dù từ năm 1945, và nhất là từ thập niên 1970, chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa [VNDCCH] đã cho lệnh viết lại về nhà Tây Sơn (1778-1802), mục tiêu chính trị giai đoạn thống trị, nên những cung văn về một cuộc cách mạng của nông dân dưới ngọn cờ đào trở nên thái quá: Anh em Tây Sơn không là nông dân thuần túy; họ sống bằng nghề “đổi trầu” hay “đổi Thượng” tức mua bán, trao đổi với sắc dân Thượng ở đầu nguồn sông Côn—có lẽ cùng nghề với những Châu Văn Tiếp v.. v.. Văn gia Trung Hoa —từ Bắc Kinh cũng như Đài Bắc—phản công bằng cách công bố những văn kiện ngoại giao giữa Tây Sơn và Hoằng Lịch, hạ thấp giá trị võ công vệ quốc Kỷ Dậu, cũng như biểu, sớ do nhóm Ngô Thì Nhiệm thảo ra, với giọng điệu “sự đại chi lễ” [phép nước nhỏ thờ nước lớn], như con với cha, môi với răng quen thuộc từ triều Đinh, Tiền Lê, tới họ Mạc, hay Lê-Trịnh. (2)
Bài khai bút đầu Xuân này muốn tóm lược lại những nét chính về võ công Kỷ Dậu, quan hệ ngoại giao Thanh-Tây Sơn trong hai năm 1789-1790 và sự đe dọa của Liên minh Nguyễn Chủng-Rama I-Giáo sĩ Ki-tô. Kết luận sơ khởi của chúng tôi là khó thể có việc Quang Trung–dưới tên Nguyễn Quang Bình–đã lên Bắc Bình dự lễ thượng thọ bát tuần (80) của Hoằng Lịch vào năm 1790 như văn gia Trung Hoa cả đoan.



