CUỘC THI VIẾT BÀI “CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA” (20)
“ Bao giờ cho hết khói súng
Cho em về với mẹ, với cha
Sống thanh bình, mãi mãi, không xa…”
- Thu Bồn -
Có lẽ không có câu hỏi nào day dứt hơn đã được nhà thơ Thu Bồn cất lên giữa những năm tháng ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Thời kì hoa lửa của dân tộc Việt Nam không chỉ là những trang sử chói lọi về ý chí ‘thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước', mà còn là những bản tình ca bi tráng về khát vọng được sống trong yên bình. Đằng sau lớp lớp bom đạn, sự hy sinh anh dũng và tinh thần quyết tử của cả một thế hệ, luôn là ánh sáng rực rỡ của niềm tin vào ngày mai hòa bình, độc lập. Chính khát vọng mãnh liệt và giản dị ấy đã trở thành động lực phi thường, giúp dân tộc ta vượt qua mọi gian khổ để đi đến chiến thắng cuối cùng.
“Xin đừng gọi tôi là liệt sĩ vô danh
Tên tuổi tôi vẫn còn đó
Chỉ là tôi hoà vào đất mẹ
Xin đừng gọi tôi là liệt sĩ vô danh
Quê tôi vẫn còn đó
Chúng tôi chỉ hoà vào đất trời
Để hôm nay được bình yên."
Xin đừng vội gọi chiến tranh là thời hoa lửa, không phải mất mát nào cũng nên được thi vị hóa, không phải bi thương nào cũng có thể gọi tên bằng những lời hoa mỹ. Nỗi đau vẫn còn đó, hằng sâu trong tâm chí mỗi người con Việt Nam, những mất mát, bi thương mà ông cha ta đã trải qua, hy sinh bản thân mình để che chở cho đồng bào phía sau. Họ thà hy sinh tất cả chứ không chùn bước, ngàn nỗi bi thương trải dài qua trong thời kỳ mưa bom bão đạn. Mẹ mất con, vợ mất chồng, con mất cha, sự bi thương ấy làm sao có thể phai nhòa trong thần trí họ? Họ cũng còn mẹ, còn vợ, còn con, còn biết bao nhiêu hoài bão, ước mơ phía sau. Thế nhưng họ lại gạt bỏ đi, vì họ còn Tổ Quốc thiêng liêng đang chìm vào bom đạn chiến tranh. Ở từng địa phương luôn luôn có những chiến sĩ lao mình vào nguy hiểm để bảo vệ Đất Nước thân yêu này. Ở địa phương em cũng thế, cũng có nhưng anh hùng không ngại nguy hiểm xung phong đứng lên bảo vệ tổ quốc. Trên dải đất hình chữ S thiêng liêng, mỗi tấc đất đều thấm đẫm mồ hôi và máu xương của những người con yêu nước. Đặc biệt, mảnh đất Tân Phú – Đồng Nai đã sản sinh ra một thế hệ anh hùng kiệt xuất, những người đã dệt nên huyền thoại về lòng dũng cảm và sự hy sinh vô bờ bến.
Thời kỳ "hoa lửa" đã qua, nhưng những cái tên như Hồ Thị Hương, Điểu Cài, Lê A, Đỗ Văn Thị, Nguyễn Văn Quang, Nguyễn Thành Trung, cùng các chiến sĩ Trần Công An, Nguyễn Văn Huê, Lê Văn Lập... vẫn còn đó, mãi mãi là những cột mốc vinh quang trong lịch sử dân tộc. Sức mạnh của họ không đến từ sắt thép, mà từ tinh thần kim cương được tôi luyện trong lửa đạn. Nhìn vào những danh xưng cao quý, ta thấy rạng ngời một khí phách lẫm liệt. Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Điểu Cải, với danh hiệu "Dũng sĩ diệt Mỹ", đã trở thành biểu tượng của trí tuệ và lòng quả cảm. Giữa lúc kẻ thù đang phô trương sức mạnh công nghệ hủy diệt, người Dũng sĩ ấy đã biến lòng yêu nước thành vũ khí sắc bén, dùng mưu lược và sự thạo địa hình để khiến quân thù khiếp sợ. Mỗi trận đánh của Anh không chỉ là sự đối đầu về quân sự, mà còn là sự áp đảo về tinh thần, khẳng định chân lý: ý chí của người dân bị áp bức không bao giờ bị đánh bại.
Tương tự, anh hùng Nguyễn Thành Trung đã khắc tên mình vào lịch sử bằng những "trận đánh oanh liệt". Những trận đánh ấy không chỉ đòi hỏi sự gan góc mà còn là sự hy sinh thầm lặng, bởi mỗi bước tiến lên phía trước đều đồng nghĩa với việc đối diện trực tiếp với tử thần. Họ đã gạt bỏ nỗi sợ hãi cá nhân, lấy lý tưởng độc lập làm ngọn đuốc soi đường. Tinh thần của họ là sự hòa quyện giữa chủ nghĩa anh hùng cách mạng và vẻ đẹp nhân văn: sẵn sàng hiến dâng những gì quý giá nhất để bảo vệ điều thiêng liêng nhất.
Nếu lòng dũng cảm là ngọn lửa cháy rực trên chiến trường, thì sự hy sinh là dòng suối mát lành tưới tắm cho mảnh đất quê hương. Sự hy sinh của anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Hồ Thị Hương và anh hùng Đỗ Văn Thị là minh chứng bi tráng cho tình yêu Tổ quốc vô bờ. Họ là những người con ưu tú, những đóa hoa rực rỡ nhất của Đồng Nai, đã chấp nhận héo tàn giữa tuổi xuân phơi phới để đất nước được nở hoa độc lập.
Hình ảnh của anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Lê A, một "tấm gương chiến đấu dũng cảm, hy sinh vì Tổ quốc", là lời nhắc nhở sâu sắc về nghĩa vụ và trách nhiệm cao cả. Họ không chiến đấu để mưu cầu danh lợi cá nhân, mà chiến đấu với một khát vọng đơn thuần và mãnh liệt: mang lại cuộc sống "sống thanh bình" cho thế hệ sau. Sự hy sinh của họ mang vẻ đẹp tráng lệ của một cuộc dấn thân không hối tiếc, nơi cái chết trở nên nhẹ tựa lông hồng khi đứng cạnh sự trường tồn của dân tộc. Họ đã hiến dâng thân thể để hóa thân thành đất đai, thành cỏ cây, thành linh hồn bất diệt của quê hương.
ác chiến sĩ như Trần Công An, Nguyễn Văn Huê, Lê Văn Lập là những biểu tượng của lòng "kiên trung", những người đã "cống hiến cả đời cho cách mạng." Cuộc đời của họ là một bản trường ca dài về sự thủy chung tuyệt đối với lý tưởng. Tinh thần ấy không chỉ thể hiện qua những trận đánh vang dội, mà còn qua những tháng ngày thầm lặng vượt qua gian khổ, thiếu thốn, bệnh tật, giữ vững niềm tin cách mạng ngay cả trong hoàn cảnh tăm tối nhất.
Họ cùng với các Anh hùng khác như Nguyễn Phong Lưu, Nguyễn Thị Ngờ, Phạm Văn Cán, Trịnh Xuân Thiều đã cùng nhau tạo nên một thiên anh hùng ca tập thể, khẳng định truyền thống "một tấc không đi, một ly không rời" của người dân Đồng Nai. Những tên tuổi này không chỉ là những ký ức được ghi trong sách sử, mà còn là nguồn suối tinh thần vô tận nuôi dưỡng lòng tự hào, trách nhiệm và ý chí vươn lên của các thế hệ hôm nay. Công lao và sự hy sinh cao cả của họ đã góp phần vĩnh viễn vào ngai vàng lịch sử, biến mảnh đất Đồng Nai trở thành vùng đất của huyền thoại và lòng dũng cảm.
Tất cả đã tạo nên một thế hệ vĩ đại, những người đã dùng máu và nước mắt để gieo mầm độc lập, tự do. Mãi mãi về sau, mỗi khi nhắc đến thời hoa lửa Việt Nam, chúng ta không thể nào quên những tượng đài sừng sững, bất khuất của vùng đất thép Đồng Nai.
Bản thân em, là một người con sinh ra trong gia đình có truyền thống cách mạng, luôn sống theo tấm gương “ Hồ Chủ tịch muôn năm”. Gia đình em cũng đã từng trải qua những ngày khoét núi ngủ hầm, những ngày lửa căm hờn nghi ngút. Ông của em là trưởng làng xã Kim Thái – Nam Định ( nay thuộc Ninh Bình) đã hy sinh khi làm nhiệm vụ cách mạng, ông đã bị quân địch bắt được và đã mang ra đầu làng xử bắn giữa hàng vạn người. Ông họ của em cũng đã hy sinh ở Tây Ninh, không được về với đất mẹ. Nhà em sau khi đất nước thống nhất, những người trở về chỉ đếm trên đầu ngón tay. Em hiểu, chiến tranh đã cướp đi gia đình, hoài bão của nhiều người. Mọi đau khổ của biết bao người, nỗi chua xót khi nhắc đến những năm tháng chìm trong bom đạn ấy. Dừng lại trước khi phủ lên nỗi đau một lớp son chữ trong khi hầu bao ngôn từ dẫu có lớn đến mấy cũng không thể chứa cả một thời máu đổ thịt rơi.
“ Lịch sử được viết bằng máu, nếu lãng quên phải dùng máu để viết lại”. Nếu chúng ta thật sự quên đi, có lẽ phải dùng chính xương máu mình để viết lại. Những phần tử bị tha hóa, biến chất nên biết quay đầu, vì có được như ngày hôm nay đã đánh đổi quá nhiều. Những nấm mồ viễn xứ ấy sẽ không đành lòng nhìn ta như vậy.
Đối với con người, chiến tranh không là gì ngoài sự hủy diệt. Là kiểu hủy diệt thảm khốc, khiếp đảm, ai oán và tuyệt vọng nhất trần đời.
Bởi chiến tranh có khả năng tạo ra bi kịch ghê gớm hơn cả cái chết: sự hoại diệt tính người
Nó trả lại thời bình những con người vĩnh viễn thương tật. Súng đạn rồi bặt câm, khói lửa rồi biển tắt, còn lại trên đất ẩy những kẻ lạc thời, những kẻ thấy mình đã bị bắn ra khỏi lề đường, khắp mình mẩy tim gan đều sưng tẩy, những kẻ va đầu vỡ đẩy bởi những thương tổn vượt ngưỡng chẳng bút mực nào tả nổi của chiển tranh phi lý bạo tàn.
Vậy nên... vậy nên khi nói "hết kháng chiến nếu con còn chưa về" thì cái phần "chưa về" và có thể vĩnh viễn sẽ chẳng về ấy còn là cái phần người lành lặn, cái phần sáng trong nguyên vẹn của tâm hồn. Họ vĩnh viễn trở thành kẻ mang"thương tật" trong tâm khảm, vĩnh viễn bị đọa đày bởi cuộc chiến năm ấy. Vì lẽ đó mà ta càng thêm thấm thía, thêm xót xa trân trọng. Bởi lẽ...
hết kháng chiến" đã có triệu ngàn người con vĩnh viễn chẳng thể “về”
Khi những trang sử vàng son của thời kỳ "hoa lửa" tạm khép lại, điều còn lại trong tâm khảm mỗi người Việt Nam không chỉ là niềm tự hào về chiến thắng vĩ đại, mà còn là sự khắc khoải khôn nguôi về những mất mát không thể bù đắp. Sự hy sinh của các Anh hùng liệt sĩ Đồng Nai – từ Hồ Thị Hương, Điểu Cài, Lê A, đến Nguyễn Thành Trung và biết bao chiến sĩ kiên trung khác – chính là những nốt trầm hùng vĩ nhất trong bản giao hưởng giải phóng dân tộc.
Họ đã nằm xuống, nhưng tên tuổi của họ không bao giờ là quá khứ. Các Anh đã không chết, mà hóa thân vào hồn thiêng sông núi, trở thành linh hồn bất diệt của quê hương. Mỗi tia nắng ban mai chiếu rọi lên mảnh đất Đồng Nai hôm nay, mỗi nhịp sống hối hả, mỗi công trình vươn cao đều được xây dựng trên nền móng vững chắc của sự cống hiến không vụ lợi, của những lời thề sắt đá được thốt lên trước lúc ra trận. Sự hy sinh của họ đã trả lời cho câu hỏi day dứt nhất của thời đại: "Không có gì quý hơn độc lập, tự do."
Hôm nay, thế hệ được thừa hưởng thành quả vĩ đại ấy xin nguyện hứa sẽ trở thành những người giữ lửa trung thành. Chúng em hiểu rằng, tri ân không chỉ dừng lại ở nén hương trầm hay phút mặc niệm trang nghiêm, mà phải là hành động cụ thể, là sự nỗ lực không ngừng nghỉ để làm rạng danh quê hương, để xây dựng một đất nước Việt Nam hùng cường, sánh vai với các cường quốc năm châu. Đó chính là cách tốt nhất để biến khát vọng hòa bình và sự hy sinh của các Anh trở thành hiện thực vĩnh cửu.
Xin được cúi đầu thật sâu, gửi gắm lòng biết ơn vô hạn tới những người con ưu tú của Đồng Nai. Các Anh là ngọn hải đăng vĩnh cửu dẫn lối cho chúng tôi đi trên con đường của trách nhiệm và lý tưởng. Xin hứa rằng, giá trị mà các Anh đổi bằng máu xương sẽ mãi mãi được trân trọng, được gìn giữ như báu vật thiêng liêng nhất của Tổ quốc. Tinh thần kiên trung của các Anh hùng liệt sĩ Đồng Nai sẽ sống mãi cùng non sông đất nước Việt Nam!



