Bài viết

CUỘC THI VIẾT BÀI “CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA” Năm học 2025 - 2026

Đồng Nai25/06/2026Phan Thị Thuỳ2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Từ nhỏ, em đã quen nghe ông bà và những người lớn trong xóm kể chuyện xưa. Những câu chuyện ấy gắn với con đường đất đỏ, bờ mương, vườn dừa… nơi em sống. Lúc nhỏ em nghe cho vui, nhưng càng lớn càng thấy những chuyện đó đáng trân trọng, vì nó thuộc về một thời mà người dân quê nghèo khó nhưng rất gan dạ. Người ta gọi đó là “thời hoa lửa”, thời mà ai cũng góp một chút sức để giữ làng giữ xóm.

Trong những câu chuyện ấy, em nhớ nhất là chuyện của ông Ba Lực. Ông hiền và vui tính, hay cầm cái khăn rằn quấn cổ rồi kể tụi nhỏ nghe chuyện ngày xưa. Khi trẻ, ông làm liên lạc cho du kích, đạp chiếc xe đạp cũ giao thư. Chiếc xe cọc cạch, thắng hư, bàn đạp lỏng, nhưng ông nói nó đã cùng ông chạy không biết bao nhiêu chuyến nguy hiểm.

Ông kể có lần trời gần tối, ông đang đạp xe mang thư thì bị lính phục kích. Ông nghe tiếng súng lên đạn mà nổi da gà. Không kịp nghĩ gì, ông rẽ vào lối nhỏ giữa ruộng, cỏ cao quất vào mặt đau rát. Ông nói: “Lúc đó chỉ biết chạy. Ngã xuống là xong đời.” May là ông chạy thoát, giao thư kịp. Lúc kể lại, ông cười hiền: “Cái quần rách một đường mà còn mừng như trúng số.”

Ngoài ông Ba Lực, em còn nghe nhiều người kể về má Tư Nết – một người đàn bà tầm tuổi bà nội em. Má nhỏ con nhưng nhanh nhẹn, tính hơi chanh chua nhưng thương bộ đội lắm. Nhà má nằm khuất sau vườn, nên được chọn để nấu cơm bí mật. Mỗi lần nấu, má phải che bếp kín để khói không bay lên cao, sợ lính nhìn thấy.

Gạo thời đó thiếu, má phải trộn cơm với khoai, bo bo cho đủ phần. Có hôm má chỉ còn nửa lon gạo mà phải làm gần hai chục phần cơm. Má kể: “Trộn đại chứ biết sao. Vậy mà tụi bộ đội ăn ngon lành, còn khen cơm má nấu ngon.” Nói tới đó má cười mà mắt long lanh như nhớ người quen cũ.

Có lần lính bất ngờ vào lục soát. Má đang luộc khoai, nghe tiếng giày đinh sợ muốn té xỉu. Má đổ nồi khoai xuống hố, vùi rơm lên rồi giả bộ đang nấu nước. Lính vào hỏi, má còn nói giọng bực: “Nấu nước tắm mà mấy ông nghi cái gì!” Họ nhìn qua rồi đi. Khi họ đi rồi, má mới dám thở mạnh.

Thêm một người mà dân làng ai cũng nhắc – dì Út Hường. Dì bằng tuổi chị hai của em lúc còn trẻ nhưng gan lì hơn nhiều. Dì làm giao liên, hay giả làm người đi bán trái cây. Dưới giỏ trái cây là tài liệu quan trọng. Một lần lính xét giỏ, trái cây bị lục tung lên nhưng họ không thọc tay xuống đáy nên dì thoát. Dì kể: “Đứng đó mà chân như muốn khuỵu, chỉ sợ họ lấy cây đâm xuống giỏ.”

Dì còn có lần bị đuổi. Lúc đó dì đi qua cầu gỗ, nghe tiếng lính phía sau hô lớn. Dì chạy băng qua cầu, nhảy xuống mương bôi bùn lên mặt, giả bộ mò cua. Lính nhìn thấy chỉ nghĩ là người dân nên bỏ qua. Dì nói bây giờ nghĩ lại còn run, chứ lúc đó chỉ biết giữ tài liệu.

Một người khác em rất kính nể là ông Sáu Tình. Ông ít nói nhưng chuyện của ông thì ai cũng biết. Ông từng tham gia du kích. Trong một trận chống càn, ông bị thương ở chân. Nhà không có thuốc, dân trong làng người cho ít lá thuốc, người cho chút gạo. Ông sống được là nhờ sự đùm bọc của mọi người.

Ông từng kể có lần bị lính vây. Ông bị thương nên chạy không nổi. Một bác nông dân thấy liền kéo ông vào bụi rậm, gom cỏ phủ lên người ông. Khi lính tới, bác giả vờ buộc dây giày. Lính nhìn rồi bỏ đi. Sau đó, bác cõng ông về theo con đường nhỏ ít người biết. Ông nói: “Nếu bác ấy sợ mà bỏ chạy thì tôi chết chắc.”

Ngoài những người lớn, tụi nhỏ ngày ấy cũng góp phần. Bà nội kể hồi đó mấy đứa trẻ tám chín tuổi lập thành “đội chim sẻ”, chuyên canh chừng. Thấy lính là chạy đi báo du kích. Có đứa tên Tí, nhỏ mà lanh lợi. Một lần Tí chạy báo kịp nên cả tổ du kích thoát. Hôm đó ai cũng cảm ơn nó.

Ngày hôm nay, làng em đã thay đổi nhiều. Đường đất được làm lại, cầu gỗ thành cầu bê tông. Nhưng mỗi khi chiều xuống, nghe gió thổi qua hàng dừa hay nhìn bờ ruộng xanh, em lại nhớ đến những câu chuyện mà người lớn kể. Em tưởng như thấy chiếc xe đạp cũ của ông Ba Lực, thấy má Tư Nết lom khom che bếp, thấy dì Út Hường ôm giỏ trái cây đi qua cầu, và thấy bóng ông Sáu Tình tựa cửa nhìn ra đồng.

Những câu chuyện ấy giúp em hiểu cuộc sống hôm nay có được là nhờ bao người bình thường mà dũng cảm. Họ không cần danh tiếng, không kể công. Họ chỉ muốn quê hương yên bình để con cháu được sống tốt hơn.

Em nghĩ dù thời gian trôi bao lâu, những câu chuyện thời hoa lửa ở quê em vẫn còn mãi, như ngọn lửa nhỏ thắp sáng ký ức, để thế hệ trẻ tụi em biết trân trọng hiện tại và sống xứng đáng với những người đi trước.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn