Cuộc tiến công thần tốc giữa biển khơi – Trường Sa mùa Xuân 1975
Cuối tháng 4/1975, khi chiến dịch Hồ Chí Minh trên đất liền đang bước vào cao trào quyết định, ngoài khơi xa Tổ quốc, một chiến dịch đặc biệt khác âm thầm triển khai. Đó là cuộc tiến công thần tốc giải phóng quần đảo Trường Sa – một chiến dịch mà Đại tướng Võ Nguyên Giáp sau này đánh giá là “một sự kiện đặc biệt diễn ra ngoài kế hoạch chiến lược ban đầu”.
Cuối tháng 4/1975, khi chiến dịch Hồ Chí Minh trên đất liền đang bước vào cao trào quyết định, ngoài khơi xa Tổ quốc, một chiến dịch đặc biệt khác âm thầm triển khai. Đó là cuộc tiến công thần tốc giải phóng quần đảo Trường Sa – một chiến dịch mà Đại tướng Võ Nguyên Giáp sau này đánh giá là “một sự kiện đặc biệt diễn ra ngoài kế hoạch chiến lược ban đầu”.
Trường Sa là quần đảo có vị trí chiến lược đặc biệt, với hơn 100 đảo nổi, bãi đá và rạn san hô nằm giữa Biển Đông. Thời điểm cuối cuộc kháng chiến chống Mỹ, trên toàn quần đảo chỉ có 11 đảo có lực lượng đồn trú. Trong đó, quân đội Đài Loan chiếm giữ đảo Ba Bình; Philippines đóng quân tại Thị Tứ, Vĩnh Viễn, Bến Lạc, Nam Côn và Song Tử Đông. Chính quyền Việt Nam Cộng hòa kiểm soát 5 đảo gồm Nam Yết, Trường Sa, Sơn Ca, Sinh Tồn và Song Tử Tây, với Sở Chỉ huy trung tâm đặt tại đảo Nam Yết.
Nhận thức rõ tầm quan trọng chiến lược và chủ quyền thiêng liêng của quần đảo, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã sớm chỉ đạo phải hành động kịp thời. Ông nhấn mạnh: Trường Sa là lãnh thổ không thể tách rời của Việt Nam; nếu chậm trễ để lực lượng nước ngoài chiếm giữ, tình hình sẽ trở nên vô cùng phức tạp. Đồng thời, Đại tướng cũng dự báo từ rất sớm vai trò to lớn của biển và đại dương đối với sự phát triển của nhân loại trong tương lai.
Dưới sự chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Tư lệnh Quân khu 5 phối hợp với Quân chủng Hải quân khẩn trương xây dựng phương án tác chiến. Ngày 4/4/1975, mật điện mang số hiệu 990B được phát đi, yêu cầu toàn chiến dịch phải thực hiện theo tinh thần “bí mật, thần tốc, táo bạo, chắc thắng”.
Ba tàu vận tải quân sự mang số hiệu 673, 674 và 675 được cải trang thành tàu cá nước ngoài, lặng lẽ rời cảng Đà Nẵng. Trên tàu là gần 300 cán bộ, chiến sĩ thuộc các lực lượng đặc công, bộ binh và pháo binh, hợp thành Đoàn C75 do Trung tá Mai Năng chỉ huy. Trong suốt hành trình, dù gặp máy bay đối phương trinh sát, các tàu vẫn an toàn nhờ lớp ngụy trang kín đáo.
Theo Trung tá Đào Mạnh Hồng – khi ấy là Phân đội trưởng Phân đội 1, Đội 1, Trung đoàn 126 – nhiệm vụ mở màn giải phóng Trường Sa được giao cho đơn vị ông, với mục tiêu đánh chiếm đảo Song Tử Tây. Ông khẳng định: nếu giành được Song Tử Tây, ta sẽ mở toang cánh cửa chiến lược để tiến sâu vào toàn bộ quần đảo.
Rạng sáng 14/4/1975, ba xuồng cao su chở lực lượng đặc công rẽ sóng tiến về Song Tử Tây. Khi còn cách đảo khoảng 5km, để tránh bị lộ, toàn bộ chiến sĩ xuống nước, vừa bơi vừa kéo theo xuồng xẹp hơi và vũ khí đã được bọc kín. Trong làn nước lạnh buốt và sóng biển dồn dập, họ kiên trì tiến vào đảo, tính toán chính xác thời điểm thủy triều lên cao để tránh bị dòng nước xoáy cuốn ngược ra xa.
Sau gần ba giờ vượt biển trong bóng tối, các mũi tấn công tiếp cận mục tiêu an toàn. Đúng 4 giờ 30 phút, hai quả B41 bất ngờ khai hỏa, phá tan sự yên tĩnh của đảo, mở màn trận đánh. Chỉ trong khoảng nửa giờ, lực lượng ta đã hoàn toàn làm chủ Song Tử Tây, thu vũ khí và bắt sống toàn bộ quân địch. Lá cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tung bay trước bia chủ quyền giữa trùng khơi.
Việc mất Song Tử Tây khiến lực lượng Việt Nam Cộng hòa điều hai tàu từ Vũng Tàu ra định phản kích. Tuy nhiên, do tình hình đất liền rối loạn sau các thất bại liên tiếp, họ không dám tấn công mà buộc phải quay về tăng cường phòng thủ đảo Nam Yết. Nhận lệnh từ Bộ Tư lệnh tiền phương, các lực lượng ta nhanh chóng tổ chức phòng thủ, sẵn sàng đánh trả trong mọi tình huống.
Ngay sau đó, các đợt đổ bộ tiếp theo được triển khai thần tốc, lần lượt giải phóng Sơn Ca, Nam Yết, Sinh Tồn, Trường Sa… Toàn bộ chiến dịch hoàn thành chỉ trong chưa đầy 15 ngày. Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng căn dặn rất rõ: nếu lực lượng nước ngoài chiếm trước thì phải kiên quyết đánh chiếm lại – một mệnh lệnh ngắn gọn nhưng thể hiện quyết tâm bảo vệ chủ quyền đến cùng.
Đúng như dự báo, ngày 29/4/1975, một số tàu nước ngoài xuất hiện gần khu vực để thăm dò. Nhưng khi nhìn thấy cờ giải phóng tung bay trên các đảo, họ đã lặng lẽ rút xa. Một ngày sau, vào 11 giờ 30 phút trưa 30/4/1975, Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, đất nước liền một dải.
Sau này, Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Mai Năng – người trực tiếp chỉ huy chiến dịch Trường Sa – nhận định: nếu lực lượng ta chậm lại chỉ vài ngày, thậm chí vài giờ, trong bối cảnh quân đội Sài Gòn đã rệu rã tinh thần, rất có thể các đảo đã rơi vào tay nước ngoài. Quyết định kịp thời và sáng suốt của Đại tướng Võ Nguyên Giáp vì thế mang ý nghĩa lịch sử đặc biệt.
Nửa thế kỷ đã qua, Trường Sa hôm nay không chỉ là phần lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc, mà còn là biểu tượng sống động của ý chí, trí tuệ và lòng yêu nước. Trong những ngày chuẩn bị ra đảo năm ấy, nhiều chiến sĩ trẻ đã vội viết vài dòng gửi lại gia đình, thả thư bên đường hành quân với hy vọng có người nhặt được gửi giúp. Có những bức thư khiến người đọc không khỏi nghẹn ngào:
“…Chúng con xác định đây là trận đánh cuối cùng. Nếu con không trở về, bố mẹ hãy nhìn lên lá quốc kỳ. Ở đó, bố mẹ sẽ thấy bóng hình của con…”.
Những dòng chữ ấy, cùng với chiến dịch thần tốc giữa đại dương năm 1975, đã trở thành một phần bất tử của lịch sử giữ nước và giữ biển của dân tộc Việt Nam.



