Bài viết

CUỘC VƯỢT NGỤC BẰNG ĐƯỜNG HẦM ĐẦU TIÊN Ở PHÂN KHU B2

An Giang26/06/2026BAN LIÊN LẠC TÙ BINH VIỆT NAM (ĐOÀN THANH NIÊN ĐẶC KHU PHÚ QUỐC)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

CUỘC VƯỢT NGỤC BẰNG ĐƯỜNG HẦM ĐẦU TIÊN Ở PHÂN KHU B2

Năm 1968, phong trào đấu tranh của tù binh Trại giam tù binh Cộng sản Việt Nam Phú Quốc diễn ra liên tục và ngày càng quyết liệt. Giám thị đã ra lệnh cho quân cảnh và trật tự thẳng tay đàn áp nhưng không ngăn được phong trào vượt ngục. Vì vậy, chúng thực hiện kế hoạch phân loại, chọn lọc số tù binh nòng cốt, những tù binh bị liệt vào “loại đầu sỏ” là miền Bắc xâm nhập và lấy khu B2 làm phân khu biệt giam để giam giữ. Do đó, tù binh khu biệt giam B2 phần lớn là tù binh từ Trại giam Hố Nai (Biên Hòa) bị đưa ra Phú Quốc 15-10-1967.

Địch chọn ra những giám thị, quân cảnh, an ninh quản lý biệt giam B2 là những tên có thành tích gian ác từ đất liền đưa ra Phú Quốc. Chúng tuyên bố: “Đây là trại tử tù, số tù bình này ngoài vòng pháp luật, sống chết là tùy chúng tao...”.

Hàng rào bao quanh trại giam cũng được chúng sửa chữa kiên cố hơn các trại khác. Toàn bộ biệt giam B2 được chia làm ba ô: Ô.1 dùng giam giữ tù binh là sĩ quan, Ô.2 giam giữ binh sĩ, Ô,3 giam giữ tù binh hạ sĩ quan. Mỗi ô, phòng giam đều có hàng rào kẽm gai kiên cố, tách biệt nhau.

Mỗi phòng giam chúng cử trưởng phòng, đại diện, lực lượng chính là mật vụ được chúng bí mật cài vào để theo dõi các hoạt động của tù binh rồi báo cho bọn giám thị, quân cảnh.

Nhưng tại đây cũng tạo cho ta nhiều điều kiện thuận lợi vì tù binh biệt giam B2 với chúng là “loại đầu sỏ” còn với ta là những anh em cốt cán, là nòng cốt và thuần khiết nhất so với các khu giam khác. Anh em biệt giam B2 có bản lĩnh vững vàng, có lập trường cách mạng cao, được tôi rèn trong chiến đấu và dám hy sinh, cho nên Đảng ủy biệt giam B2 đã sớm có chủ trương tổ chức vượt ngục.

Biệt giam B2 là nơi tổ chức cuộc vượt ngục đầu tiên bằng hình thức đào hầm với quy mô lớn ở Trại giam tù binh Cộng sản Việt Nam/Phú Quốc. Kế hoạch đào hầm được Đảng ủy phân khu B2 thông qua: về địa điểm chọn phòng 14, số người đào là 17 người trong khu hạ sĩ quan và binh sĩ, người được chọn là những anh em khỏe mạnh, gan dạ và có tính kỷ luật cao. Hầm dự kiến đào trong 6 tháng, ngày khui miệng hầm là ngày kỷ niệm Cách mạng tháng Tám (19-8-1968) và ngày mở nắp hầm vượt ngục ra ngoài là ngày 3-2-1969, số lượng 120 người.

Nơi khui miệng hầm là phòng 13, khu hạ sĩ quan, ở đây đa số anh em bị tra tấn, bệnh tật, một số anh thường ho ra máu, đi khám bệnh bọn địch cho là bị ho lao nên chúng dồn số anh em này cách ly xuống phòng 12 dãy sau khu B2, còn phòng 14 lúc bấy giờ chưa có người ở. Anh em phòng 13 cũng được chuẩn bị tư tưởng đối phó, khi trật tự, quân cảnh vào kiểm tra là nhiều người cùng ho; quân cảnh sợ lây bệnh ít vào kiểm tra hơn. Chính vì vậy, tổ Đảng quyết định khui miệng hầm ở phòng 14, đã gây bất ngờ lớn cho bọn địch.

Anh em dùng ca US, cà mèn thay cho cuốc xẻng để làm dụng cụ đào hầm. Đất đào xong được xúc đổ vào can nhựa đựng nước đưa ra ngoài đổ. Khi hẩm đào xuống sâu, anh em lấy quần áo xé thành từng đoạn, thắt lại thành dây và buộc vào can nhựa kéo đất lên...

Để tránh bọn địch theo dõi vì thấy đất mới, Đảng ủy phát động toàn khu làm vệ sinh trại giam, san lấp mặt bằng, khai thông cống rãnh, hố xí, hố tiểu. Các đường thoát nước trong sân trại được tu sửa và làm mới, đất mới đào hầm lên được đổ san nền cùng đất làm vệ sinh hàng ngày, đêm đổ ra, sáng dậy anh em tập thể dục san bằng và khi làm vệ sinh tu sửa lại cho đẹp. Vậy là vấn đề đất đào lên được giải quyết. Đồng thời, anh em bắt đầu chuẩn bị lương thực, thực phẩm và dự trữ thuốc men cho những người đào hầm và cho đoàn vượt ngục sau này.

Đường hầm dài, đào mất nhiều thời gian, một số anh em bị ốm, kiệt sức phải thay thế, đồng thời hầm đào sâu xuống mặt đất thiếu dưỡng khí phải đào lỗ thông hơi và đường tránh nên tiến độ có chậm lại. Mặt khác, tình hình trong trại diễn biến khá phức tạp, bọn giám thị trật tự thường xuyên vào kiểm tra, anh em sống trong tâm trạng rất căng thẳng. Đảng ủy Liên chi đã bám sát tình hình và kịp thời động viên tinh thần anh em phải giữ vững lời thề trước khi đào hầm “trung thành tuyệt đối”.

Vì vậy, mặc dù đây là lần đầu tiên anh em đào hầm vượt ngục, dụng cụ thiếu thốn, có anh tay phồng rộp lên, chân trúng đá bị thương gây lở loét, thân mình xây xát rớm máu, trời nóng nực cũng phải mặc quần áo dài để che mắt bọn trật tự. Nhưng với ý chí và tỉnh thần quyết tâm vượt ngục cao, sau hơn 5 tháng tích cực đào, đến cuối tháng 12-1968, đường hầm dài 120 mét, sâu 1,2 mét đã gần đến đích. Đảng ủy nhận được tin, có dấu hiệu bọn giám thị phát hiện đường hầm, nguy cơ bị lộ nên chủ trương cho tổ chức vượt ngục sớm hơn kế hoạch.

Theo chỉ đạo của Đảng ủy, hầm sẽ được mở nắp từ 7 giờ đêm 20-01 đến 4 giờ 30 phút ngày 21-01-1969 để đưa 120 anh em được lựa chọn ra. Kế hoạch được bí mật thông báo, cả trại hồi hộp nhưng địch hoàn toàn không biết gì.

Đến khoảng 12 giờ, Thượng sĩ Xuất là giám thị (người Hoa lai Việt, to béo, cao khoảng 1,8 m), đi nhậu về đứng trước cổng lớn khu biệt giam B2, la to: Đã 12 giờ rồi, sao trong trại chưa đi ngủ. Tiếng một người trong trại vọng ra: Nóng quá chừng Thượng sĩ ơi!

Lúc này, trong trại B2 từng tốp 3 hoặc 4 người xì xào với nhau có đường hầm vượt ngục, một số người cởi trần chỉ mặc quần đùi đi tới đi lui, cảnh tượng lúc bấy giờ thật nhốn nháo. Quá nửa đêm bỗng có một tin phát ra: đường hầm bị một tảng đá chắn ngang, mọi người trong những tốp trên mới về các phòng ngủ.

Tuy vậy, Đảng ủy vẫn quyết tâm cho anh em vượt ngục để đánh lạc hướng của địch.

Điều đó càng thôi thúc anh em dưới đường hầm khẩn trương moi đất. Và đúng 4 giờ 35 phút cửa hầm được khui trống, người đầu tiên trườn lên khỏi đường hầm thấy tình hình khá căng thẳng, lúc này Đảng ủy chỉ đạo: anh em cứ trồi lên mặt đất, thà chết ở ngoài rào còn hơn chết ở dưới hẩm vì đã xuống hầm rồi và số lượng người được đi cũng rút bớt chỉ còn lại 21 người. Anh em trườn ra ngoài, men theo bãi tranh đến sát bờ biển.

Đúng 5 giờ sáng, Đảng ủy chỉ đạo lấp miệng hầm bên trong và ngụy trang miệng hầm, số anh em không ra ngoài kịp trở về vị trí cũ và chuẩn bị kế hoạch đối phó. Khoảng 6 giờ sáng, anh em vừa lấp miệng hầm và ngụy trang xong. Như thường lệ, giám thị vào trại điểm danh. Tên Xuất đếm đi đếm lại thấy thiếu 21 người, hắn tái mặt. Hắn liền báo cáo lên Bộ Chỉ huy trại giam.

Ngay lập tức, các tiểu đoàn quân cảnh kéo xuống vây quanh trại giam B2, một lúc sau, bọn sĩ quan an ninh và cố vấn Mỹ cũng kéo đến. Chúng đi máy bay trực thăng từ Sài Gòn ra và mang theo máy dò lòng đất để tìm đường hẩm vượt ngục.

Cuộc rượt đuổi tù binh vượt ngục được thực hiện với quy mô lớn, toàn bộ lực lượng được triển khai lục soát. Nhưng chúng không phát hiện được miệng hầm, do lúc bấy giờ những người trong dự kiến đi mà không đi được, được tổ chức giao nhiệm vụ ngụy trang lấp miệng hầm một cách chu đáo. Quân cảnh chỉ phát hiện lỗ chui lên cách chiến hào phía trước khoảng 3m, cách vọng gác phía sau bên phải hướng ra biển gần 30m. Từ đó chúng mới lần tìm ra được miệng hầm chui xuống. Dưới hẩm còn nhiều dụng cụ đào hầm anh em để lại.

Trung tá Thức, Chỉ huy trại giam nổi giận với bọn giám thị và quân cảnh: Các anh mù hết rồi, chúng nó thịnh soạn như thế này mà không biết. Cho các anh ra Vùng 1 cho biết. Một tên sĩ quan an ninh Mỹ thốt lên: Chắc có người từng tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ của Việt Minh năm 1954.

21 anh em vượt ngục ra ngoài ngay trong đêm đã vượt ra khỏi Cầu Sấu, sau đó chia thành hai nhóm. Một nhóm theo bờ Nam biển, một nhóm theo bờ Bắc biển, men đảo từng bước đến 6 giờ tối đêm thứ hai (22-1-1969), cả hai nhóm đến vị trí tập kết cuối cùng, đó là nơi địch thường tập trung bắn pháo, đúng nơi anh em dự đoán căn cứ của ta. Tại đây anh em đã gặp được căn cứ của huyện đảo Phú Quốc. Cuộc vượt ngục thắng lợi trọn vẹn, anh em vừa đến căn cứ thì gặp được 26 người đã vượt ngục ra đang công tác tại đây tiếp đón.

Đảng bộ huyện Phú Quốc đã tiếp đón các anh như những người con anh hùng đi xa mới trở về với tâm trạng vui mừng khôn xiết. Sau đó, anh em được phân công công tác tại Huyện đội Phú Quốc, hoặc bổ sung về bộ đội địa phương, du kích các xã để tăng cường sức chiến đấu cho huyện đảo. Trong đó, anh Võ Cường, nguyên Bí thư Huyện ủy huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định, được cử làm Phó Ban Thường trực Ban Đón tiếp tù binh vượt ngục của huyện Phú Quốc.

Tại cuộc Hội thảo ngày 28-3-1995 ở Phú Quốc, một số anh em đã gặp nhau và cùng nhớ lại Danh sách 21 anh em vượt ngục ngày hôm đó gồm: Chỉ đạo đào hầm: Sáu Cường (Bình Định); Hai Huyên (Thừa Thiên); Hai Quang (Quảng Ngãi) và Hòa. Nòng cốt đào hầm: Cát (Nghệ An); Kim (Hòa Bình); Hà Long (Hà Tây); Năm Lòng (Đồng Nai); Hóa (Nghệ An); Hạnh; Hán; Châu (Bình Dương); Phán (Quảng Bình); Thành; Hải (Thanh Hóa); Thống (Thừa Thiên), Thuần (Thừa Thiên); Đại (Thái Nguyên); Việt Anh (Hà Tĩnh); Hoa (Hải Dương); Thanh (Thanh Hóa).

Năm 2008, Thượng sĩ nhất Trần Văn Nhu, nguyên là một giám thị ác ôn khét tiếng ở trại giam không giấu giếm nỗi thán phục. Nhu nói: “Khi chiến tranh leo thang, số tù bình tăng vọt, các biệt khu giam giữ cũng được mở rộng. Các khu giam bố trí thêm thép gai bùng nhùng vòng trong, vòng ngoài từ 3 - 5 lớp, được gài trái sáng, người vượt ngục khó trốn thoát. Khu vực ngoài bờ rào được gài nhiều lớp mìn các loại: mìn play-more, mìn cóc, mìn râu tôm USA... Ban đêm, hệ thống đèn pha rực sáng, quét liên tục mọi ngóc ngách. Các khu giam còn được trang bị cả ống nhòm hồng ngoại tuyến quan sát về đêm. Tăng cường chặt chẽ vậy mà mấy ông tù binh vẫn vượt ngục bằng cách đào hầm...

Tài nhất là vụ đào hầm ở phân khu B2, nơi tôi quản lý vào đêm 20-1-1969. Mấy người tù tổ chức đào đường hầm ở phòng 13 và 14, dài 120 mét và thoát được 21 người. Ban Chỉ huy, giám thị không hiểu bằng cách nào các tù binh đào hẩm một cách tài tình và bí mật trong thời gian dài. Hồi trùng tu khu di tích, Ban Quản lý Di tích Nhà tù Phú Quốc nhờ tôi tham gia góp ý, chỉ các chi tiết cho giống nhà tù cũ và chỉ vị trí đường hầm trên”.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn