CUỘC VƯỢT NGỤC BẰNG ĐƯỜNG HẦM LỚN NHẤT Ở TRẠI GIAM TÙ BINH PHÚ QUỐC TẠI PHÂN KHU A4 VÀO ĐÊM 23 RẠNG 24-12-1971
CUỘC VƯỢT NGỤC BẰNG ĐƯỜNG HẦM LỚN NHẤT Ở TRẠI GIAM TÙ BINH PHÚ QUỐC TẠI PHÂN KHU A4 VÀO ĐÊM 23 RẠNG 24-12-1971
Đến tháng 2-1973, 11 khu giam đã được sử dụng, còn khu 12 chúng để trống và sau đó bí mật giấu người vào giữa khu này, nhằm thực hiện âm mưu thủ tiêu, chôn sống khoảng một trăm chiến sĩ của ta trước khi thực hiện trao trả tù binh.
Cuối tháng 5-1971, chỉ huy trại giam cho chuyển tù bình trước đây ở phân khu B5 sang phân khu A4 để chống đào hầm vượt ngục. Nắm được âm mưu của địch, Đảng ủy phân khu gồm các đồng chí: Đào Cang, Bí thư Đảng ủy; Nguyễn Trọng (tức Nam Hà) , Phó Bí thư Đảng ủy; Đại úy Nguyễn Hòa, anh Nguyễn Văn Bôn và một vài đồng chí khác (không nhớ tên), Đảng ủy viên đã họp và đề ra kế hoạch vượt ngục bằng hình thức đào hầm như sau:
Bố trí hai đồng chí đảng viên lên làm đại diện của phân khu: anh Trương Hảo (quê Quảng Nam) và anh Văn Hai (tức Văn Hữu Nghị, quê Hoài Nhơn, Bình Định).
Giao cho đồng chí Hà, trưởng phòng nhà bếp, làm công tác vận động quần chúng ủng hộ, giúp đỡ vật chất và phương tiện đào hầm cho tổ đào hầm. Báo cáo cho Đảng ủy và các Chi bộ tình hình quần chúng trong thời gian tổ đào hầm hành động.
- Thành lập tổ đào hầm gồm 15 đồng chí, chỉ định đồng chí Nguyễn Văn Hòe (quê xã Xuân Hương, huyện Lạng Giang, tỉnh Hà Bắc), Tổ trưởng; đồng chí Ngọc, Tổ phó.
Chuẩn bị hai phương án để đối phó với địch nếu hầm bị phát hiện: một là, nếu đường hầm ngắn thì 3 đồng chí đứng ra nhận với địch (đồng chí Hòe, Bầu và Oát); hai là, nếu đường hẩm dài gần hoàn thành mà bị phát hiện thì đội cảm tử gồm 5 đồng chí đứng ra nhận (Hòe, Bầu, Oát, Thắng và Nộ).
- Địa điểm đặt nắp hầm ở gian thứ hai, đào theo hướng tây qua dưới hai phòng giam, qua lộ xe tuần tra, qua nhà quân cảnh rồi ra bãi tranh thì trổ cửa lên. Đường hầm dự kiến dài 80 -120 mét, thời gian đào từ 5 – 6 tháng, nếu sớm hơn càng tốt.
Sau hơn một tháng chuẩn bị, đồng chí Hà được tổ đào hẩm cử lên gặp Đảng ủy để báo cáo tình hình. Sau khi cân nhắc các vấn đề tổ đào hầm nêu, Đảng ủy đã đồng ý phương án tổ đào hầm đưa ra.
Các phân khu giam ở đảo Phú Quốc đều được xây dựng giống nhau (trừ khu B2), mỗi phân khu có mười phòng giam từ số 1 đến số 10. Phòng số 1 nằm tách rời cạnh nhà bếp, 9 phòng khác từ số 2 đến số 10, chia 3 dãy, mỗi dãy có 3 phòng. Phía sau cùng là hai cầu tiêu không có vách, nhìn về hướng tây. Đối diện với sân điểm danh và phòng giám thị là dãy nhà giam có 3 phòng phía trước: 2, 3 và 4.
Nếu mở nắp hầm ở các phòng dưới cùng thì xuyên rào về hướng tây rất nhanh nhưng rất dễ bị lộ vì bọn địch thường tập trung xăm hầm ở các phòng này. Hướng mở về phía bắc không được vì phân khu B4 nằm liền kề với A4. Chỉ còn một hướng duy nhất là phải mở sang phía khu 3 vì giữa khu 3 và khu 4 có một bãi trống, rộng lại có giao thông hào, dễ giấu mình trong đêm.
Vì vậy, tổ đào hầm chọn phòng số 2 đặt nắp hầm, nơi lên xuống để đào hầm và đưa đất lên. Nhưng phòng này ở trong tầm mắt của bọn giám thị khi nhìn vào trại nên đường hầm phải mở về hướng nam xuyên qua hai phòng số 3 và số 4, luồn qua nhiều lớp rào kẽm gai để khui miệng lên dưới một đường giao thông hào do địch đào để phòng thủ, chạy ngang qua gần lều bạt của bọn quân cảnh canh gác, ngủ đêm. Từ đó mới triển khai đội hình theo hướng dây nilông định hướng đi về hướng tây (tức là vòng ra phía sau trại giam, ở ngoài rào phía có hai hố tiêu). Nhờ sự thông minh, táo bạo và khôn khéo này ta đã che được mắt của bọn địch và đánh lừa chúng trong suốt một thời gian dài.
Theo kế hoạch, các anh Trương Hảo và anh Văn Hai hàng ngày thay nhau ra phòng giám thị ngồi bắt chuyện với tên Phấn, Giám thị phân khu mới về thay tên Vinh chuyển đi nơi khác, để tên Phấn không còn thời gian đi kiểm tra, tạo điều kiện cho anh em đào hầm. Hai anh Hảo và Hai đã góp phần quan trọng làm nên thắng lợi của cuộc vượt ngục lịch sử này.
Gần sáu tháng đào hầm, nhiều khó khăn đặt ra đòi hỏi tổ đào hầm phải giải quyết như: địch tổ chức kiểm tra đột xuất khi trưởng khu yêu cầu, bọn quân cảnh có thể ập vào trại bất cứ lúc nào để xăm hẩm nên thời gian đào không thể liên tục mà phải tận dụng về đêm sau lúc điểm danh; phương tiện kỹ thuật và địa bàn không có, anh em phải nhắm hướng mà đào; mỗi ngày đào được từ 4 – 5 mét, nhưng khi đào đến đường mương thoát nước ngoài hàng rào, gặp đá tảng, cọc sắt chắn ngang, anh em phải dừng lại nghiên cứu và tìm cách khắc phục mất một tuần mới làm xong, khi hầm đào xuống sâu, bị thiếu không khí, nên có lúc 5 anh em chui xuống mới đào được 3 – 5 mét đã bị ngạt, có người ngất xỉu phải kéo lên, vì thế mà dọc theo đường hầm cách 10 mét phải xoi lỗ thông hơi bí mật...
Đặc biệt, khoảng đầu tháng 10-1971, theo thông tin từ hai anh đại diện, có thể bọn chỉ huy trại giam lại sắp chuyển trại. Tình thế vô cùng bất lợi, phải tìm cách kéo dài thời gian chuyển trại và cố gắng đào hầm thật nhanh. Một sáng kiến được anh em đưa ra là phải đào một căn hầm giả, tạo điều kiện để chúng phát hiện và không còn nghi ngờ có hẩm thật. Đồng thời, cử hai đoàn viên đứng ra nhận mình là người đào hầm để vượt ngục. Và đúng như dự đoán, căn hầm giả mới đào dang dỡ bị bọn chúng phát hiện. Hai đoàn viên cảm tử đã ra đi mà không thấy trở về!
Sau vụ “nghỉ binh” hẩm giả, hai anh đại diện lại tiếp tục ra trò chuyện với tên Phấn, Giám thị trưởng, để dò la tình hình bọn chỉ huy. Đồng thời, Đảng ủy chủ trương tổ chức một phong trào văn nghệ trong phân khu: hàng ngày cho anh em tập trung hát tốp ca, đồng ca, hòa tấu nhạc cụ và tổ chức các lớp học văn hóa, chuyên môn nhằm mục đích ngụy trang để bọn cai tù nghĩ rằng tù binh đã yên phận ca hát, học tập nên sẽ không đào hầm, chui rào, vượt ngục nữa. Và đúng như dự định của Đảng ủy, khi phong trào văn nghệ rầm rộ nổi lên, bọn giám thị đã đình chỉ việc chuyển trại.
Đào đến ngày 20-12-1971, anh em lấy dây đo thử thấy đường hầm đã dài 80 mét, chỉ còn khoảng 8 – 10 mét nữa là đến giao thông hào, gần lều bạt của bọn quân cảnh trực đêm. Như vậy, chỉ cần đào hai ngày nữa là căn hầm sẽ hoàn thành đúng vào ngày lễ kỷ niệm 27 năm thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam (22-12-1971) và ngày lễ Giáng sinh 25-12-1971 sắp đến, bọn quân cảnh cũng mong chờ ngày lễ để “xả hơi”. Anh em dự kiến sẽ vượt ngục vào đêm 22-12-1971. Tổ đào hầm xin ý kiến đồng chí Nguyễn Hòa, Phó Bí thư Đảng ủy khui miệng hầm trong đêm 22-12-1971, khi bọn quân cảnh chuẩn bị nhập tiệc, uống bia, đánh bạc, chúng sẽ chủ quan trong việc canh giữ tù...
Đảng ủy đồng ý và chỉ đạo phải hết sức khẩn trương hoàn thành đoạn hầm còn lại. Nhưng bọn địch lại tổ chức tăng cường canh gác, điểm danh, tuần tiễu, kéo theo máy dò hầm (đo địa chấn) đi chung quanh trại nhân ngày lễ của chúng ta nên cả ngày và đêm 22-12-1971 chỉ đào được hơn 4 mét. Anh em phải vừa cảnh giới vừa tích cực đào cho đến đêm 23-12 mới khui miệng hầm lên được. Như vậy, sau gần 5 tháng, anh em đã đào được đường hầm có độ dài 113 mét như kế hoạch (trong đó khoảng 88 mét đường thẳng và 25 mét đường hầm cong tránh đá, cọc rào).
Kế hoạch vượt ngục chuẩn bị xong, danh sách những anh em vượt ngục được chọn gồm: 17 người trực tiếp đào hầm, 6 người gián tiếp (trong đó có anh Trương Hảo và Văn Hai là hai anh đại diện) và 7 người được Đảng ủy cử thêm, cộng tất cả gồm 30 người.
Chỉ huy đoàn vượt ngục gồm các anh: anh Hòa, chỉ huy trưởng; anh Nguyễn Văn Bôn, sĩ quan đặc công, chỉ huy phó và anh Hảo, Chính trị viên. Đoàn vượt ngục chia làm 3 tổ, có đội đặc công, trinh sát cảm tử gỡ mìn, thả dây định hướng mở đường đi trước. Nếu bị địch phát hiện khi đã trồi lên mặt đất thì đội cảm tử sẽ xông vào lều bạt, cướp súng đánh trả để mọi người rút chạy vào rừng. Nếu không bị phát hiện thì tuyệt đối chấp hành điều lệnh không gây một tiếng động nhỏ, người trườn phía sau lần theo dây nilông định hướng, cự ly giãn cách không quá xa nhau, đảm bảo đội hình theo 3 tổ, tách đi mỗi tổ một hướng về phía bắc để gặp nhau và tìm về căn cứ cách mạng.
Nhưng đến giờ mở miệng hầm ra ngoài, có 11 người ngoài danh sách đi theo, nâng tổng số người vượt ngục lên 41 người (trong đó có 3 người miền Nam tập kết trở về và 38 sĩ quan, chiến sĩ miền Bắc).
Đến khoảng 11 giờ đêm, anh em vượt ngục đã đi khá xa trại giam, những người ở lại tâm trạng rất căng thẳng, vừa cầu mong đồng đội thoát được trở về tiếp tục phục vụ cách mạng, vừa chuẩn bị tinh thần đối phó với bọn giám thị, quân cảnh khi chúng phát hiện ra cuộc vượt ngục.
Một lúc sau, pháo từ ngoài biển dồn dập bắn vào chặn đường ở phía Cầu Sấu. Sau này, anh em mới biết, khi đoàn vượt ngục đã thoát ra khỏi các lớp rào, xuyên qua lộ tuần tiễu của địch, tốp đi đầu đã gỡ mìn xuyên qua được lớp “rào chết”, thấp ngang đùi nhưng có anh đi sau, không bám theo được đường dây định hướng nên mất phương hướng, bò sang cạnh chòi canh phân khu B4 và đã bị tên lính canh ở đây phát hiện. Tên quân cảnh gác đêm la lớn “Tù ra, tù ra!” và bắn súng AR15 báo động.
Sau khi phát hiện tù binh vượt ngục, giám thị đuổi tù binh ra ngoài và cho trật tự vào sục sạo hết các phòng để dò tìm nắp hầm, nhưng lùng sục mãi mà chúng vẫn không phát hiện ra (vì nắp hầm đã được anh em ở lại đậy cẩn thận, khỏa lấp đất bằng phẳng). Bọn cố vấn Mỹ và sĩ quan quân cảnh cũng kéo tới hỗ trợ tìm. Cuối cùng chúng đưa chó béc giê vào và đã tìm ra chỗ đặt nắp hầm (vì lúc này, anh em không còn bỏ các loại gia vị như hành, tỏi, gừng, ớt bột... vào nắp hầm để ngụy trang nữa).
Nhiều văn bản của bọn chỉ huy, giám thị Trại giam tù binh Phú Quốc báo cáo với cấp trên về cuộc vượt ngục nêu khá chỉ tiết và trùng hợp với lời kể của các anh em, những người đã vượt ngục thoát trong vụ này. Trong các văn bản đó, có Phiếu trình của tên Trung tá Bùi Bằng Dực, Chỉ huy trưởng Trại giam tù binh Cộng sản Việt Nam/Phú Quốc, số 602/TC-TBCSVN/PQ/CT/DH ngày 4-1-1972 gửi tên đại tá Chỉ huy trưởng quân cảnh quân lực Việt Nam Cộng hòa K.P.C 4258, về việc 41 tù binh thuộc phân khu A4 đêm 23 rạng ngày 24-12-1971, nêu khá đầy đủ:
Trang 2 phiếu trình, Bùi Bằng Dực ghi: “Ngày 24-12-1971, hồi 3 giờ 10, trong khi điểm danh tù binh và lục soát tại phân khu A4 (khu giam 4) Đại đội A8 quân cảnh đã phát giác được một miệng hầm tại phòng 2 và 41 tù binh đã đào thoát bằng đường hầm này.
Miệng hầm ở dưới sạp ngủ gần đầu phòng giam, hình chữ nhật rộng 0,45 mét x 0,25 mét, chung quanh miệng có ghép gỗ, nắp hầm bằng gỗ theo hình chậu chữ nhật cao 0,05 mét, miệng rộng, đáy hẹp, bên trong chứa đất. Hầm sâu 1,5 mét, đường kính 0,65 mét, dài 71 mét, hướng về phía nam. Cửa thoát ra ngay giao thông hào phía đầu lều Trung đội 1, cách khoảng 0,5 mét và quẹo hướng tây dọc theo bãi cỏ tranh vào rừng. Khi qua hàng rào ngoài cùng, tới bãi cỏ sậy thì đường dây quẹo về hướng bắc một khoảng dài 200 mét thì hết dây, nhưng dấu vết vẫn còn đi thẳng...”.
Trang 3, phiếu trình ghi: “hầm được khởi sự đào khoảng cuối tháng 7-1971. Tù binh lợi dụng những lúc trong khu không có giám thị hoặc quân cảnh vào và thường đào vào khoảng thời gian sau khi điểm danh cho đến gần giờ điểm danh tối. Đất đào được chuyển lên vào lúc tối, một số đổ vào thùng nước tiểu khuấy cho tan, một số đào giấu dưới nền cát, hoặc bỏ vào những thùng không, bên trên ngụy trang quần áo đem giặt rồi khiêng ra giếng đổ. Mỗi khi tù binh xuống hẩm đào thì tù binh đại diện hoặc phó đại diện tìm cách ra nói chuyện với giám thị ở ngoài cổng, còn tù binh trưởng và phó phòng thì đi tới đi lui canh chừng báo động. Để việc xuống hầm được dễ dàng và kín đáo, tù binh bí mật gỡ hai tấm ván sạp ngủ ngay miệng hầm, làm nơi lên xuống”...
Và đây là danh sách 41 người vượt ngục được bọn địch ghi lại trong phiếu trình gồm:
- Trương Hảo - số tù: 0068
- Văn Hai - số tù: 2304
- Ngô Quý Dân (Hồi kết) - số tù: 0260
- Nguyễn Văn An - số tù: 0510
- Nguyễn Văn Mận - số tù: 0364
- Nguyễn Văn Bầu - số tù: 2052
- Đỗ Xuân Cần - số tù: 3015
- Hoàng Bạc Hà - số tù: 3030
- Lê Văn Hưng - số tù: 0175
- Nguyễn Văn Quyền - số tù: 2707
- Nguyễn Đức Hòe- số tù: 2790
- Lê Văn Khỏe - số tù: 3761
- Nguyễn Văn Kình - số tù: 3672
- Lâm Văn Lý - số tù: 12436
- Nguyễn Văn Xuân - số tù: 2145
- Nguyễn Văn Minh - số tù: 2205
- Vũ Mai - số tù: 5164
- Nguyễn Nguyên - số tù: 2556
- Lê Văn Lô - số tù: 0581
- Nguyễn Văn Ngọc - số tù: 3621
- Lê Sinh - số tù: 1291
- Bùi Văn Oát – số tù: 3829
- Mạc Văn Phong – số tù: 5477
- Nguyễn Văn Quý – số tù: 2876
- Phùng Xuân Huyền – số tù: 0115
- Nguyễn Đăng Quý – số tù: 2900
- Nguyễn Văn Quý – số tù: 3502
- Lê Thanh Xuân – số tù: 0733
- Đào Văn Thắng – số tù: 3100
- Trương Viết Tuyên – số tù: 5220
- Cao Đức Thắng – số tù: 0922
- Bùi Văn Thanh – số tù: 0026
- Nguyễn Văn Thái – số tù: 4415
- Nguyễn Luận – số tù: 0250
- Dương Viết Vân – số tù: 5392
- Nguyễn Văn Bôn – số tù: 7961
- Cao Như Đăng – số tù: 2678
- Nguyễn Hòa – số tù: 1209
- Nguyễn Văn Lành – số tù: 1652
- Trần Đăng Lâm – số tù: 0148
- Nguyễn Ngọc Sử - số tù: 1767.
Sáng 24-12-1971, địch tiếp tục rà soát, tìm kiếm tù vượt ngục. Chúng dùng máy bay bắn pháo, rốc-két xuống những đổi núi phía tây nam đảo. Ngoài lực lượng lính ở đảo, bọn chúng còn điều thêm một tiểu đoàn biệt động từ Sài Gòn ra để phối hợp truy lùng tù binh vượt ngục và chốt chặn các hướng đi. Bọn quân cảnh được điều tới bao vây quanh hàng rào phân khu A4.
Đồng thời, quân cảnh bắt tất cả tù binh tập trung theo phòng, đưa ra phơi nắng ở bãi trống giữa khu 4 và khu 3, lính Tiểu đoàn 8 quân cảnh đứng xung quanh canh gác, súng chĩa vào hàng người.
Anh em bị phơi nắng đến gần trưa thì quân cảnh giải cả trại trở về khu B5. Sáng 25-12-1971, một chiếc xe tải dừng trước cổng phân khu, trên thùng xe là xác hai tù binh bị bắn chết nằm sóng sượt. Bọn giám thị vào đưa mấy anh em ra bảo nhận diện. Người đầu tiên anh em nhận ra là anh Trương Hảo, Đại diện trưởng của phân khu, Chính trị viên của đoàn vượt ngục và đồng chí Bùi Văn Oát trong tổ đào hầm.
Ngày thứ ba, chúng chở về anh Nguyễn Văn Ngọc và anh Nguyễn Văn Bôn, sĩ quan đặc công, Phó đoàn, nhưng anh em rất khó nhận diện vì thân thể hai anh đã biến dạng do hy sinh đã ba ngày. Đến chiều, chúng chở về thêm hai người nữa là anh Hoàng Bạc Hà và anh Lê Sinh. Như vậy, tất cả những người đã hy sinh đều nằm trong danh sách 23 người trực tiếp và gián tiếp tham gia đào hầm.
Hai hôm sau chúng giải về thêm anh Nguyễn Hòa, Phó Bíthư Đảng ủy, Chỉ huy đoàn vượt ngục, nhốt vào chuồng cọp B5. Khi còn ở trong tù, anh em chỉ biết có 6 anh đã hy sinh hoặc bị bắt lại, trong đó gồm tất cả các anh chỉ huy đoàn vượt ngục.
Như vậy, tổng cộng có ba cuộc vượt ngục bằng đường hầm đã thành công: cuộc vượt ngục bằng đường hầm lần đầu tiên ở khu B2 (3-2-1969), cuộc vượt ngục bằng đường hầm kép ở khu Α5 (12-5-1971), và cuộc vượt ngục bằng đường hầm lần thứ ba diễn ra ở phân khu A4 vào đêm Nôen (đêm 23 rạng 24-12-1971). Trong đó, cuộc vượt ngục bằng đường hầm lần thứ ba (24-12-1971) là cuộc vượt ngục lớn nhất với đường hầm dài 113 mét (đo dưới lòng đất) và có số người vượt thoát đông nhất (41 người).
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, anh em gặp lại nhau mới biết anh Nguyễn Đức Hòe còn sống (ở Cần Thơ), anh Văn Hai (ở Tam Quan Bắc, Bình Định), Bí thư Chi đoàn Trần Đăng Lâm (ở Hải Phòng) mới rõ thêm một số tình hình của anh em vượt ngục ra chuyến đó. Trong chuyến vượt ngục ấy, 26 đồng chí về đến căn cứ, tham gia chiến đấu cùng quân dân huyện đảo; số đông được đưa về đất liền tiếp tục công tác, chiến đấu một số đồng chí đã hy sinh trong khi chiến đấu, số ở lại đã bám trụ cùng huyện đảo chiến đấu cho đến ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam. 15 đồng chí đã hy sinh, bị mất tích, bị thương, bị bắt lại. 6 đồng chí hy sinh (địch đưa về trại nhận diện), anh Nguyễn Hòa bị bắt đưa về nhốt tại chuồng cọp B5, còn 8 đồng chí khác không về được căn cứ mà anh em cũng không gặp lại sau ngày trao trả.


