MỘT THOÁNG LỊCH SỬ
Đất nước Lào trải dài trên 1.000km nằm bên tả ngạn dòng sông Mê Kông, dựa lưng vào dải Trường Sơn hùng vĩ, trước thế kỷ XVIII đã từng là một vương quốc cường thịnh ở khu vực. Chầu Phạ Ngừm - vị vua có công thống nhất đất nước, lập vương quốc đầu tiên trên toàn bộ lãnh thổ này từ năm 1353, đã đặt tên nước là Lạn Xạng (Triệu Voi). Đó là nơi tụ hội của 49 bộ tộc, trong đó bộ tộc Lào - con cháu của Khun Bulôm và Khunlò di cư từ phía nam Trung Quốc xuống từ đầu thế kỷ VI - là bộ tộc lớn hơn cả, có số dân chiếm hơn 1/3 dân số cả nước. Tất cả các bộ tộc trên cùng sống hiền hòa với nhau, cùng chung cảnh ngộ, cùng chung một nền văn hóa có bản sắc riêng của Lào, thấm nhuần đạo đức nhân ái từ bi vị tha của Phật giáo. Họ đã bao đời chung lưng đấu cật xây dựng nên những đô thành, đô thị sầm uất như cố đô Luông Pha Băng êm đềm, thủ đô Viên Chăn náo nhiệt ngày nay, với những công trình cổ kính nổi tiếng đồ sộ và độc đáo như quần thể tháp chùa Thạt Luổng, Sisakệt, Phạ Kẹo (Viên Chăn), Xiêng Thong (Luông Pha Băng), That Inh Hằng (Khăm Muộn), Vặt Phu (Chăm Pa Xắc)... với những cánh đồng phì nhiêu bát ngát nằm giữa các thung lũng hay dọc các triền sông Mê Kông, sông Nặm Bạc, sông Nặm Ngừm, sông Nặm Thơn, sông Sêbăngphay, Sêbănghiêng, Sêđôn, sông Ba Xắc, cùng với những bản Mường xen kẽ nương rẫy bạt ngàn trên các dãy núi rừng trùng điệp từ Bắc đến Nam, với biết bao thắng cảnh làm ngây ngất lòng người như Cánh đồng Chum (Thượng Lào), Thác Khôn (Hạ Lào), Tát Sét (Trung Lào)...
Sống trên dải đất không có bờ biển lại bị bao quanh bởi 5 nước láng giềng to lớn hơn mình nhiều lần, nhân dân các bộ tộc Lào đã phải trải qua những chặng đường dài chiến đấu chống ngoại xâm để dựng nước và giữ nước, trong đó có 3 thế kỷ (thế kỷ XV, XVI, XVII) liên tiếp nhiều lần đánh bại và đẩy lùi các đạo quân xâm lược tàn bạo của phong kiến Xiêm La, Diến Điện và đã hơn 3 lần phải bắt tay xây dựng lại kinh đô Viên Chăn, Luông Pha Băng bị đốt phá, hủy diệt, san bằng.
Sau khi xâm chiếm xong Việt Nam và Campuchia, thực dân Pháp cũng hoàn thành công cuộc đặt ách đô hộ ở Lào từ năm 1893, nhưng chúng đã phải liên miên đối phó với các cuộc nổi dậy của nhân dân các bộ tộc Lào chống chính quyền thực dân, nổi bật là các phong trào nổi dậy của Pho Cạ Đuột Phum Mi Bun (1901-1907), Kôm Ma Đăm (1910-1934), Chau Pha Pắt Chay (1919-1921), Khu Khăm (1920), v.v...
Từ khi có Đảng Cộng sản Đông Dương - tiền thân của Đảng Nhân dân cách mạng Lào và Đảng Cộng sản Việt Nam ngày nay, nhân dân Lào đã dần dần tập hợp dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng, kế tục truyền thống kiên cường bất khuất của cha ông, đã không ngừng đấu tranh giành lại độc lập tự do. Đồng thời với Cách mạng tháng Tám thành công ở Việt Nam, nhân dân Lào đã nổi dậy giành chính quyền từ tay phát xít Nhật, lập Chính phủ Itsala tuyên bố nền độc lập của nước Lào ngày 12 tháng 10 năm 1945. Nhưng Pháp đã đem quân trở lại đặt ách thống trị ở 3 nước Đông Dương một lần nữa, nhân dân Lào cùng với nhân dân Việt Nam và Campuchia đã kề vai sát cánh tiến hành cuộc kháng chiến 9 năm kết thúc bằng Hiệp định Giơnevơ 1954. Lần đầu tiên nền độc lập của Lào được thừa nhận bằng một hiệp định quốc tế, lực lượng vũ trang kháng chiến cũng được thừa nhận với tên gọi là Lực lượng Pathét Lào và được tập kết về 2 tỉnh Sầm Nưa, Phông Saly ở phía bắc Lào. Nhưng đế quốc Mỹ đã nhảy vào thay thế Pháp thi hành chủ nghĩa thực dân kiểu mới, xây dựng ngụy quân, ngụy quyền Lào dưới cái vỏ độc lập, mưu toan xóa bỏ Hiệp định Giơnevơ 1954 về Lào, mở các đợt tiến công hòng xóa bở căn cứ 2 tỉnh tập kết của lực lượng Pathét Lào, tiêu diệt lực lượng vũ trang cách mạng Lào.
Cuộc chiến đấu ngoan cường của quân dân hai tỉnh tập kết phía bắc được sự ủng hộ phối hợp đấu tranh chính trị của nhân dân ở 10 tỉnh còn lại, dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân Lào (thành lập ngày 21-3-1955) đã đập tan các cuộc tiến công đó của địch. Cuộc đấu tranh quân sự - chính trị song song đó đã dẫn tới Hiệp định Viên Chăn ngày 22 tháng 10 năm 1957 với nội dung thỏa thuận giữa hai bên là: Thành lập chính phủ liên hiệp lần đầu tiên có lực lượng Pathét Lào tham gia, sửa đổi hiến pháp, tiến hành tổng tuyển cử bổ sung, mặt trận Neo Lào Hắc Xạt ra mắt hoạt động trên phạm vi toàn quốc, 2 tỉnh tập kết và 2 tiểu đoàn Pathét Lào trở về hòa hợp trong cộng đồng Vương quốc Lào.
Cuộc tổng tuyển cử bổ sung đã được tiến hành ngày 4 tháng 5 năm 1958 với thắng lợi vang dội của mặt trận Neo Lào Hắc Xạt và đồng minh của mình là lực lượng hòa bình trung lập (Neo Lào Hắc Xạt được 9 ghế, hòa bình trung lập được 4 ghế, cộng là 13 ghế trong 21 ghế nghị sĩ bổ sung, đặc biệt có một nghị sĩ nữ đầu tiên của nước Lào là bà Khămpheng Bupha, Hoàng thân Xuphanuvông ứng cử ở Viên Chăn đã trúng cử với số phiếu cao nhất). Với thắng lợi này, nhân dân toàn quốc Lào vui mừng khôn xiết và hy vọng rằng trên đất nước Triệu Voi tươi đẹp này tiếng súng sẽ ngừng nổ, máu xương sẽ ngừng đổ từ đây; cuộc sống thanh bình sẽ trở lại trong không khí hòa hợp dân tộc và dựng xây lại đất nước phồn vinh trong điệu múa và tiếng khèn lăm vông muôn thuở yên vui.
Nhưng Mỹ và lực lượng phái hữu tay sai của họ không cam tâm chịu thất bại, không chịu bó tay trước viễn cảnh không còn ai tin vào những lời lẽ chống cộng mị dân của họ, không chịu chấp nhận sự thất bại hiển nhiên là toàn dân Lào đã hướng niềm tin vào những lãnh tụ chân chính và ưu tú của họ, vào ngọn cờ của Mặt trận Lào yêu nước do Đảng Nhân dân Lào lãnh đạo.
Chúng đã lập tức phản ứng điên cuồng bằng hành động bạo lực trắng trợn chà đạp công lý, bất chấp dư luận. Hơn 2 tháng sau cuộc tổng tuyển cử, ngày 22 tháng 7 năm 1958, chúng lật đổ chính phủ liên hiệp, đẩy Thủ tướng Xuvănnạ Phumma đi làm Đại sứ ở Pháp; ngày 18 tháng 8 năm 1958, Phủi Sananikon lên làm thủ tướng lập chính phủ không có Pathét Lào tham gia, tuyên bố Hiệp định Giơnevơ 1954 hết hiệu lực, đình chỉ hoạt động của Quốc hội - thực chất là tước quyền của các nghị sĩ yêu nước, đình báo Lào Hắc Xạt, đóng cửa các trụ sở của mặt trận Neo Lào Hắc Xạt.
Năm 1959 trở thành năm cực kỳ đen tối đối với đất nước và nhân dân Lào. Ngày 11 tháng 5 năm 1959 Phủi Sananikon ra lệnh bao vây hòng tước vũ khí tiểu đoàn 2 Pathét Lào đóng tại Cánh đồng Chum (Xiêng Khoảng). Ngày 12 tháng 5 năm 1959 chúng cho cảnh sát bao vây nhà ở của các lãnh tụ và các nghị sĩ Neo Lào Hắc Xạt ở Viên Chăn. Đồng thời tiến hành một đợt càn quét khủng bố, bắt bớ tra tấn, bức hại các cán bộ và các cơ sở Neo Lào Hắc Xạt ở khắp các địa phương.
Trâng tráo hơn nữa trong âm mưu điệu hổ ly sơn rồi chặt đầu phong trào, ngày 26 tháng 7 năm 1959 Phủi Sananikon ra lệnh bắt giam đồng chí Xuphanuvông, các nghị sĩ và các nhà lãnh đạo, cán bộ của Neo Lào Hắc Xạt, tất cả là 16 đồng chí, gồm 7 nghị sĩ quốc hội Vương quốc, 9 ủy viên Trung ương Mặt trận Lào yêu nước, trong đó có 3 đồng chí sau này kế tiếp nhau làm Chủ tịch nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (đồng chí Xuphanuvông, đồng chí Phummi Vongvichit, đồng chí Nủhắc Phumsavẳn).
Đó là bộ phận lãnh tụ cực kỳ quan trọng của cách mạng Lào, những cán bộ cốt cán ưu tú của Đảng Nhân dân cách mạng Lào và Mặt trận Lào yêu nước (Neo Lào Hắc Xạt), những người con yêu quý dũng cảm của nhân dân Lào. Hành động bắt giam trái phép những đồng chí trên thể hiện bản chất hung bạo và lật lọng làm sửng sốt mọi người, còn bọn quan thầy và tay sai phản động phái hữu thì chắc mẩm rằng phong trào cách mạng Lào sẽ không còn ngóc đầu dậy được nữa. | |
Logged
| Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế |
|
|
quansuvn | 
| Cuộc vượt ngục kỳ diệu« Trả lời #2 vào lúc: 01 Tháng Bảy, 2021, 10:07:54 pm » | Nhưng bọn phản động cực hữu Lào, được sự nuôi dưỡng và chỉ đạo của quan thầy đế quốc đã nhầm to: Chỉ sau 300 ngày bị giam giữ trong trại tù Phôn Khênh nằm trong khuôn viên Bộ Tổng tư lệnh quân đội Vương quốc, được canh gác nghiêm ngặt 24/24 giờ, bỗng chỉ trong một đêm 23 rạng ngày 24 tháng 5 năm 1960 cả đoàn tù 16 người cùng 1 tiểu đội lính hiến binh (quân cảnh) canh gác đã biến mất mà hàng chục năm sau kẻ địch cũng như công luận cũng vẫn coi đó là một hiện tượng kỳ lạ, chưa hiểu nổi cuộc vượt ngục - cuộc giải thoát lịch sử này đã được tiến hành bằng cách nào và đi con đường nào mà có thể thoát khỏi vòng vây trùng điệp và sự truy lùng gắt gao nhiều tháng trời ở mọi hướng của mọi lực lượng kẻ địch có trong tay, kể cả sử dụng lính nhảy dù thiện chiến chặn đầu, khóa đuôi mà vẫn không tìm ra một dấu vết nhỏ. Vào thời đó đã có tin đồn do sự đoán mò của bọn phản động và chúng dựa vào đó để che lấp tội ác và sự bất lực của chúng rằng "đã có một xe tải đón sẵn ở cổng trại giam để đưa tù nhân và lính gác chạy về hướng bắc theo đường số 10 lên dãy núi Phukhaukhoai cách Viên Chăn khoảng 80km đường chim bay, ở đó đã có trực thăng chờ sẵn để đón các vị về Hà Nội rồi"... Ngoài ra còn có những tin đồn thất thiệt khác, thậm chí sau này kể cả gần đây vẫn có những bài báo viết về sự kiện này nhưng chỉ mới phản ánh được phần nào sự thật, thậm chí có những chi tiết thiếu chuẩn xác, như có người viết "cuộc vượt ngục thành công là do tiểu đội lính gác tù được chính những người bị giam tuyên truyền giác ngộ nên đã mở cửa trại giam giải thoát” - đó chưa phải là toàn bộ sự thật. Sự thật là nếu không có chủ trương lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời của Trung ương Đảng nhân dân Lào, nếu không có sự chuẩn bị công phu tỉ mỉ của Tỉnh ủy Viên Chăn và đội ngũ cán bộ của tỉnh phối hợp với tổ công tác đặc biệt của Việt Nam phái sang hỗ trợ thì các vị lãnh đạo bị giam làm sao có thể tin và theo toán lính gác tù cùng trốn như thế được. Thậm chí ra khỏi trại giam rồi đoàn tù sẽ làm sao đi thoát khỏi vòng vây và sự lùng sục của hàng chục tiểu đoàn quân địch đóng ở nội thành và ngoại vi nếu không có sự phối hợp trong ngoài trại giam, giữa cơ sở nội thành với cán bộ ngoại thành tỉnh Viên Chăn và các địa phương đoàn tù sẽ đi qua, không có sự phối hợp với Trung ương, v.v... Tất cả đều đã được bài binh bố trận theo một phương án đã được bàn tính, điều chỉnh, bổ sung tỉ mỉ, liên tục trong 10 tháng trời, sử dụng hàng trăm cơ sở tin tức mật, cơ sở giao liên mật, bám sát mọi diễn biến của việc giam giữ, bố phòng trại giam và của cục diện chính trị - quân sự ở Viên Chăn cũng như ở trên đất nước Lào để đi đến quyết định giờ G chính xác và tổ chức thực hiện trọn vẹn cuộc giải thoát cũng như cuộc hành quân bí mật về căn cứ phía bắc mà không tốn một viên đạn, một giọt máu, hơn thế nữa lại vẫn giữ được tuyệt đối bí mật và tuyệt đối an toàn. Cho đến 3 năm sau ngày giải phóng toàn Lào, tại Đại hội anh hùng chiến sĩ thi đua toàn quốc Lào năm 1978, sự kiện trên mới được công bố thông qua việc phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang cho đồng chí Xiêng Xổm nguyên cán bộ của Tỉnh ủy Viên Chăn - người duy nhất đã đột nhập trại giam và dẫn đường cho đoàn tù về đến căn cứ an toàn của tỉnh ủy ở ngoại thành và bà mẹ Phăn, giao liên mật của Tỉnh ủy Viên Chăn.
Sự kiện đặc biệt này có thể coi là cuộc vượt ngục hay là cuộc giải thoát đều đúng cả, bởi lẽ: Nếu những người tù nhân và lính gác không đồng lòng nhất trí vượt ngục trốn ra thì dù có một binh đoàn lớn đến giải thoát cũng không thể thành công được. Ngược lại dù các tù nhân và lính gác có tài giỏi đến đâu cũng không thể tự mình vượt ngục thành công, nếu không có kế hoạch bài binh bố trận sẵn từ bên ngoài trại giam do Tỉnh ủy Viên Chăn chỉ đạo tổ chức thực hiện chỉ thị của Trung ương Đảng Nhân dân Lào với sự tham gia góp phần đắc lực của tổ công tác đặc biệt Việt Nam được phái sang giúp bạn kịp thời theo yêu cầu của bạn. Tổ công tác đã tham gia giúp bạn từ khi lập kế hoạch ban đầu cho đến khi thực hiện hoàn hảo kế hoạch, không phải là chỉ đi đón các đồng chí sau khi đã thoát ra tù. Tổ đã vượt Trường Sơn ra đi theo yêu cầu của Trung ương Đảng Nhân dân Lào ngay từ khi mới nghe tin địch giam lỏng tại gia đối với các nhà lãnh đạo Mặt trận yêu nước Lào. Tổ công tác Việt Nam đã hoàn thành tốt nhiệm vụ theo yêu cầu của lãnh đạo bạn, thực hiện đúng chỉ thị của Đại tướng Võ Nguyên Giáp: "Đây là công việc liên quan đến vận mệnh quốc gia dân tộc bạn. Mọi việc do bạn Lào quyết định...”. Những công việc đó là truyền đạt được chỉ thị, nghị quyết của Trung ương Đảng Nhân dân Lào, điều tra, nghiên cứu tình hình địch cả trong và ngoài trại giam; làm tham mưu, đề xuất phương án giải thoát với Tỉnh ủy và Ban chỉ đạo của bạn; tổ chức đường dây liên lạc, giữ vững mạch máu liên lạc vô tuyến điện với Trung ương; tham gia cùng Ban chỉ đạo của bạn giải quyết các tình huống nảy sinh; đi hộ tống, bảo vệ Chủ tịch Xuphanuvông cùng đoàn đi bộ từ Viên Chăn xuyên qua 3 tỉnh về đến biên giới Việt - Lào tại Mường Thanh, Điện Biên Phủ; huấn luyện, đào tạo đặc công cho phía bạn... Tóm lại, đó là những khâu công tác khó khăn và phía bạn yêu cầu thì chúng tôi đảm nhận và đã hoàn thành xuất sắc, góp phần thực hiện hoàn hảo cuộc giải thoát. Những công việc đó là nhân tố góp phần không thể thiếu trong nguyên nhân tổng hợp dẫn đến thành công trọn vẹn của cuộc vượt ngục.
Trên hết, nguyên nhân cơ bản, sâu xa, có ý nghĩa quyết định nhất đối với thành công của cuộc giải thoát này chính là truyền thống yêu nước, tinh thần đấu tranh ngoan cường hướng về chính nghĩa cách mạng của nhân dân các bộ tộc Lào, trong đó có anh em lính cảnh vệ Vương quốc đã được giác ngộ và hàng trăm cơ sở nhân dân nội, ngoại thành Viên Chăn và ở các căn cứ mà đoàn đi qua đã nuôi dưỡng, dẫn đường, làm giao liên, làm tai mắt nắm tin địch, chiến đấu đánh lạc hướng địch và bảo vệ, giữ bí mật an toàn tuyệt đối cho đoàn. Điều đó cũng nói lên tấm gương dũng cảm, mưu trí và uy tín rất cao của Chủ tịch Xuphanuvông và các nhà lãnh đạo của Đảng Nhân dân Lào, một nhân tố hết sức quan trọng dẫn đến thành công của cuộc vượt ngục nói riêng và của sự nghiệp đấu tranh lâu dài gian khổ để giải phóng các dân tộc Lào nói chung.
Cuộc vượt ngục lịch sử - cuộc giải cứu lãnh tụ kỳ diệu nói trên được diễn tả trung thực trong cuốn sách này là một nét son rực rỡ trong các trang sử vàng của truyền thống yêu nước, đấu tranh bất khuất chống ngoại xâm của nhân dân các bộ tộc Lào, đồng thời còn là "một chiến công tiêu biểu của mối tình hữu nghị đoàn kết đặc biệt Lào - Việt" như lời của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đánh giá.
Nhưng sẽ là thiếu sót lớn nếu cuốn sách này chỉ diễn tả cuộc giải cứu các lãnh tụ cách mạng Lào cho đến khi kết thúc đưa các tù nhân thoát khỏi trại giam, mà không nói đến những sự kiện hệ quả, tác động, diễn biến hết sức quan trọng tiếp theo và gắn liền với cuộc vượt ngục lịch sử này. Đó là cuộc đảo chính của đại úy Koongle và lính dù Vương quốc ngày 9 tháng 8 năm 1960 (hơn 2 tháng sau cuộc vượt ngục). Đó là cuộc chiến đấu 7 ngày đêm anh dũng kiên cường trong nội thành Viên Chăn tháng 12 năm 1960 của quân đảo chính phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương của Mặt trận Lào yêu nước, có sự cố vấn và chi viện pháo binh của Việt Nam để bảo vệ chính phủ hợp pháp của Vương quốc do Hoàng thân Xuvănnạ Phumma làm thủ tướng. Đó là cuộc rút lui khỏi thành phố thủ đô bảo toàn được lực lượng để hành quân lên phía bắc đánh chiếm, giải phóng Cánh đồng Chum lần đầu tiên vào Tết dương lịch mồng 1 tháng 1 năm 1961. Cuốn sách này cũng sẽ diễn tả lại cuộc chiến đấu sôi động và quyết liệt đó tiếp theo sau cuộc vượt ngục lịch sử nói trên.
Nếu nói năm 1959 là năm đen tối của cách mạng Lào thì năm 1960 lại là một trong những trang sử vàng chói lọi của đất nước Lào. Thành công của cuộc giải cứu Chủ tịch Xuphanuvông và các nhà lãnh đạo Lào bị địch bắt giam gắn liền với những thắng lợi liên tiếp của công cuộc chuyển hướng chiến lược dưới sự lãnh đạo sáng suốt và dũng cảm của Đảng Nhân dân Lào, trong đó có sự kiện giải phóng Cánh đồng Chum, chẳng những phá vỡ mảng đầu tiên trong âm mưu chiến lược chiến tranh đặc biệt của bọn đế quốc ở Lào, chẳng những đã cứu vãn tình thế gay cấn của cách mạng Lào trước sự lật lọng hung bạo của địch, mà còn mở ra một cục diện mới ở Lào: cục diện hình thành 3 phái, trong đó phái trung lập yêu nước liên minh với phái Mặt trận Lào yêu nước, một cục diện so sánh lực lượng với lợi thế nghiêng hẳn về cách mạng Lào, tạo nên một đà mới cho cách mạng Lào tiếp tục tiến lên cho đến ngày toàn thắng: ngày 2 tháng 12 năm 1975 thành lập nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào. | |
Logged
| Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế |
|
|
quansuvn | 
| Cuộc vượt ngục kỳ diệu« Trả lời #3 vào lúc: 02 Tháng Bảy, 2021, 08:58:51 pm » | CHỦ TỊCH XUPHANUVÔNG KỂ CHUYỆN VUỢT NGỤC PHÔN KHÊNH* (Trích hồi ký "Thời sôi động" của Đại tướng Chu Huy Mân, Nxb Quân đội nhân dân, H.2004)[/i
Sau ba trăm ngày sống trong ngục tù - trại Phồn Khênh của bọn phản động phái hữu Lào có cố vấn Mỹ chỉ đạo, đêm 23 rạng ngày 24 tháng 5 năm 1960 Hoàng thân Xuphanuvông cùng các nhà lãnh đạo Mặt trận Lào yêu nước bị giam đã được giải thoát ra khỏi trại giam trở về vùng căn cứ cách mạng.
Cuộc vượt ngục được chuẩn bị công phu trong gần 10 tháng trời đầy hiểm nguy, đã được thực hiện trót lọt một cách bí ẩn như thể các đồng chí có pháp thuật tàng hình. Tiếp theo là hành trình từ đó về đến căn cứ của Tỉnh ủy Viên Chăn (Na Nhang, Loong Tòn) và cuộc hành quân đường dài lên phía bắc trở về căn cứ địa cách mạng (Sầm Nưa) trong bối cảnh địch đang dùng mọi lực lương, mọi phương tiện bao vây, lùng sục, chặn đường, nhảy dù mai phục... cũng là một hành trình đầy gian lao, thử thách hiểm nghèo có thể xảy ra ở bất cứ đoạn đường hành quân nào. Phải mất 4 tháng trời sau khi thoát khỏi trại giam, hành quân xuyên qua 4 tỉnh (Viên Chăn, Luông Pha Băng, Phông Saly, Sầm Nưa) đoàn vượt ngục mời về đến đích cuối cùng.
Trong đoàn hành quân này có đồng chí Trương Văn Quý - tổ phó và đồng chí Nguyễn Văn Vinh - báo vụ viên vô tuyến điện trong Tổ công tác đặc biệt Việt Nam đi tháp tùng, phục vụ đoàn giữ liên lạc với Trung ương Đảng Nhân dân Lào và Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Việt Nam. Trên đường hành quân, đoàn được Cục Nghiên cứu Bộ Tổng Tham mưu Việt Nam hàng ngày thông báo tình hình bố trí lực lượng các cứ điểm địch và các cuộc hành quân lớn nhỏ của địch ở đoạn đường đoàn sẽ đi qua để cho đoàn né tránh, đi vòng và có biện pháp đối phó, khắc phục. Khi đoàn về đến biên giới Mường Thanh (cửa khẩu Long Nhai), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cho chuyên cơ của Người và cử đồng chí Nguyễn Khang lên Điện Biên Phủ cùng đồng chí Chu Huy Mân đi đón đoàn. Hồi đó đồng chí Chu Huy Mân đang là Thiếu tướng, Chính ủy Quân khu Tây Bắc. Đồng chí đã ghi lại lời kể của Chủ tịch Xuphanuvông về cuộc vượt ngục Phôn Khênh trong quyển hồi ký "Thời sôi động" của mình.
Lời kể của Chủ tịch Xuphanuvông dưới đây sẽ là minh chứng sống động nhất của cuộc vượt ngục lich sử này.
"... Đầu tháng 9 năm 1960 anh Nguyễn Khang - Ủy viên Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, nguyên Bí thư Ban cán sự miền Tây từ Hà Nội lên Tây Bắc truyền đạt chỉ thị của Trung ương, tôi và anh cùng đi vào Điện Biên Phủ đón Hoàng thân Xuphanuvông. Chúng tôi vội lên xe chạy thẳng đến bản Long Nhai. Khó tả hết niềm vui và xúc động khi chúng tôi gặp Hoàng thân Xuphanuvông. Chiều hôm ấy và cả trong bữa cơm thân mật, chúng tôi được nghe Hoàng thân kể tỉ mỉ cuộc vượt ngục lịch sử của ông. Hoàng thân Xuphanuvông chậm rãi nói:
Ngay khi mới bị đưa vàọ trại giam, chúng tôi đã nghĩ ngay đến việc phải tìm cách thoát trở về lãnh đạo phong trào. Nhưng quan sát trại bốn bề tường kín, ba lượt rào cao, lại bị vây giữa một trại hiến binh và nhà ở của sĩ quan, nên muốn vượt khỏi trại giam sẽ phải tiến hành một cuộc chuẩn bị kiên trì, gian khổ và hết sức thận trọng mới có hy vọng. Chúng nhốt anh em chúng tôi mỗi người ở một buồng riêng, ngày đêm khóa cửa. Việc tiếp xúc với bên ngoài và sự liên lạc với nhau ở trong trại cũng bị cắt đứt. Chúng tôi sống trong cảnh hoàn toàn bị bưng bít, không có báo, không được tin tức từ bên ngoài, nên rất khó định đoạt hành động của mình.
Ngừng một lát, vẫn giọng trầm trầm chậm rãi, Hoàng thân kể tiếp:
Đã hơn một tháng, bọn địch như cảm nhận mọi việc đã ổn nên chúng rút cảnh sát, chỉ để lại hiến binh canh gác trại. Những người hiến binh lạnh lùng trước đây, nay qua thái độ của họ chúng tôi biết họ đã bắt đầu tỏ lòng thương cảm. Họ không dám chuyện trò nhưng vẻ mặt, cử chỉ mỗi lần ra vào mở cửa đã nói lên tấm lòng của họ. Thế là tôi chợt nảy ý định sẽ tìm cách giác ngộ những người hiến binh này. Những lúc chỉ có một hai người ở cửa buồng giam, tôi dần dà hỏi han chuyện trò khi một câu, khi vài câu với họ. Cứ thế thành quen, chúng tôi đã tìm thấy nhiều người tốt trong số hiến binh kia để tuyên truyền giác ngộ lòng yêu nước cho họ. Một số hiến binh đã từng ở chùa, dần dần bộc lộ sự thương xót vì kính trọng tôi và anh em cán bộ Pathét Lào. Có người bí mật giúp chúng tôi những đồ dùng thiết yếu. Chúng tôi bắt đầu liên lạc được với nhau và phân công bí mật giáo dục riêng từng người. Những người hiến binh được giác ngộ càng ngày càng quý mến chúng tôi. Sau 3 tháng, giám thị bắt đầu nới lỏng, một ngày cho chúng tôi ra ngoài ít giờ để lao động, tôi và anh em của ta đã cuốc đất trồng rau, biến mảnh đất nhỏ thành mảnh vườn xinh xắn. Một số anh em hiến binh đã tự kiếm những giống rau ngon, hoa đẹp về cho chúng tôi trồng. Đến khi thấy rau xanh tốt, hoa nở thắm tươi anh em hiến binh rất khâm phục những người trong Mặt trận Lào yêu nước. Một số hiến binh giác ngộ nhất bắt đầu giúp chúng tôi từ tiếp tế thực phẩm, đồ dùng, liên lạc với gia đình ở Viên Chăn để lấy tin tức hàng ngày. Vòng vây bưng bít của bọn tay sai bị phá tan dần. Chúng tôi đã biết được tình hình tiểu đoàn 2 Pathét Lào vượt vòng vây quân thù trở về căn cứ. Chúng tôi đã nghe tin tức kịp thời ở trong nước và cả những tin quan trọng trên thế giới.
Hơn một trăm hiến binh canh gác, chúng tôi đã giác ngộ được trên 40 người. Trong đó chúng tôi chọn một số trung kiên nhất, tổ chức họ thành từng nhóm bí mật với nhau tuyên truyền kỹ hơn.
Trước tinh thần giác ngộ của binh sĩ, chúng tôi tin tưởng và vạch kế hoạch vượt ngục. Chúng tôi tìm được 8 người giác ngộ và kiên quyết nhất để giao nhiệm vụ chuẩn bị vượt ngục, trong đó có hai anh em cai xếp U Đon và Chănthavi. Tôi nói anh Nủhắc làm kế hoạch cụ thể cho chuyến đi lịch sử sắp tới. Hai anh em U Đon và Chănthavi được bố trí bí mật liên lạc với cán bộ Neo Lào Hắc Xạt đang hoạt động ở Viên Chăn để tổ chức đón chúng tôi về căn cứ Pathét Lào gần nhất. Chănthavi còn được giao liên lạc với 4 nhà sư ở một ngôi chùa gần đó làm tổ dẫn đường trong chặng đầu từ Viên Chăn ra. | |
Logged
| Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế |
|
|
quansuvn | 
| Cuộc vượt ngục kỳ diệu« Trả lời #4 vào lúc: 02 Tháng Bảy, 2021, 08:59:25 pm » | Dừng một lát, uống ngụm nước chè, Hoàng thân kể tiếp:
Vấn đề khó khăn nhất là làm sao cho 8 người được lựa chọn kia cùng gác vào một phiên với nhau, vì các lượt gác không thể chủ động bố trí nên cứ có người này lại thiếu người khác. Đáng khen cho anh Nủhắc rất khéo bày kế để họ bố trí sắp xếp đúng như kế hoạch. Cơ hội tốt đã đến!
Tối ngày 23 rạng ngày 24 tháng 5 năm 1960, 5 người trong số 8 anh em trung kiên cùng gác một phiên. Còn 3 người nữa cuối cùng cũng vận động gác thay cho những hiến binh khác.
Việc chuẩn bị đủ số quân phục hiến binh cần thiết và bảng tay tuần tra đóng giả hiến binh đi tuần tra cũng được anh Nủhắc giao cho hai anh em U Đon chuẩn bị đầy đủ trong ngày 23 tháng 5. Thực phẩm lương khô và nilông cũng được hai anh em U Đon chuẩn bị kỹ càng.
Ba giờ chiều ngày 23 tháng 5, tôi được tin bên ngoài cho biết đã bố trí xong người liên lạc và đón ở các địa điểm quy định. Ngay chập tối, một cán bộ liên lạc1 (Tức đồng chí Xiêng Xổm) từ bên ngoài cử tới được anh em hiến binh bí mật đưa vào nằm sẵn trong trại giam.
Tám giờ tối, tôi nói anh Nủhắc phổ biến kế hoạch cụ thể về việc lên đường, và lúc này 8 hiến binh kia mới biết quyết định vượt ngục của chúng tôi. Cả 8 anh em tuy đột ngột biết tin, nhưng đều tỏ ra sung sướng sẵn sàng ủng hộ kế hoạch của đoàn.
12 giờ kém 5 phút, một trinh sát báo cáo đã có thể đi được. Kế hoạch được nhắc lại một lần nữa, tôi và mọi người đã cải trang thành những hiến binh. Sau khi kiểm tra lại thêm một lần nữa, tôi cho lệnh lên đường. Thế là một đội hiến binh tuần tra gồm 25 người đi hàng một hồi hộp và náo nức tiến ra phía đường cái. Đèn pha vẫn sáng, các cửa trại giam mở ra rồi được khóa lại như thường lệ. Xung quanh vắng lặng, binh sĩ và sĩ quan đều đã ngủ say. Mấy người lính thiết giáp gác giờ này cũng chẳng thèm chú ý đến đội "hiến binh tuần tra” đang lộp cộp đi ngang qua.
Sang khỏi cầu Phôn Khênh, cả đoàn rẽ vào rừng chờ người dẫn đường. Một lát sau, thấy có tiếng người xì xào và loáng ánh đèn pin, chúng tôi hơi chột dạ. Tiếng Chănthavi rõ dần, chúng tôi lên tiếng nhận nhau. Từ đây cả đoàn gồm 30 người, chia thành 3 nhóm do đồng chí Xiêng Xổm dẫn theo con đường bí mật được chuẩn bị sẵn trong rừng. Trời tối mù mịt, không ai nhìn thấy ai. Đến một chỗ hơi trống trải tôi cứ theo hướng phía trước mà đi. Bỗng tôi giật mình, sao lại vắng vẻ thế này. Định thần một lúc, biết mình đã bị lạc. Do đã lường trước tình huống khi bị lạc trong đêm tối, hãy đứng im một chỗ sẽ có người tìm đến, vài chục phút sau anh em tìm thấy tôi. Mọi người đều cảm thấy nhẹ nhõm, đều vui mừng, chúng tôi tiếp tục lên đường.
Càng về khuya, tôi càng cảm thấy chân tay rã rời. Có lẽ tuổi đã cao, lại bị giảm cân do nhiều ngày trong gian khổ thiếu thốn, tôi cảm thấy đuối sức, hơn nữa chân đã bắt đầu sưng, bật máu nên ngã nhiều lần.
Anh em ái ngại. Nhưng vì tôi mà hỏng việc lớn sao đành, cách mạng Lào đang cần chúng tôi trở về, nghĩ đến lúc về căn cứ gặp lại đồng chí, đồng bào tôi như được tiếp sức mạnh. Thế là tôi cắn răng đứng dậy, vịn vào người khỏe hơn mà bước.
Khoảng 4 giờ sáng, chúng tôi đã đến gần đường số 13 phía bắc Viên Chăn. Ở đây đã có một trung đội Pathét Lào chờ sẵn, họ vui mừng tiếp tục đưa chúng tôi về căn cứ an toàn.
Tôi và anh Nguyễn Khang ngồi nghe Hoàng thân Xuphanuvông kể về những ngày không thể nào quên đối với ông. Tôi càng trân trọng tinh thần yêu nước của Hoàng thân, đã xem thường nguy hiểm gian nan đi làm cách mạng. Hoàng thân nhắc lại nhiều lần tinh thần và tình cảm của nhân dân các bộ tộc Lào đã dành cho ông và những nhà lãnh đạo Pathét Lào trong những ngày bị giam cầm, đặc biệt là sau khi ra khỏi nhà tù băng rừng về căn cứ đã được người dân chở che, nuôi nấng.
Chúng tôi cảm nhận được, qua thử thách tôi luyện, Hoàng thân Xuphanuvông cũng như các nhà lãnh đạo Neo Lào Hắc Xạt lớn lên với tầm vóc cao hơn nhiều. Những nhà lãnh đạo Pathét Lào thực sự là niềm tự hào, là hy vọng và chỗ dựa tinh thần cho nhân dân các bộ tộc Lào và cách mạng Lào. Trong bữa cơm chan hòa niềm vui hiếm có của tinh thần quốc tế và tình hữu nghị Việt - Lào, Hoàng thân Xuphanuvông mấy lần xúc động nhắc đến công ơn to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cách mạng Lào, Hoàng thân cho biết trong lúc bị giam cầm trong nhà lao, hình ảnh thân thương của Bác đã giúp ông và các nhà lãnh đạo Neo Lào Hắc Xạt thêm sức mạnh để chiến đấu. Lần này về Hà Nội thế nào Hoàng thân cũng xin được gặp Bác để thăm và chúc sức khỏe Người.
Sáng hôm sau, Hoàng thân Xuphanuvông và anh Nguyễn Khang lên máy bay về Hà Nội, tôi trở lại Thuận Châu”. |
|
|