Cuối năm 1946, do tác động tình hình chung và phong trào kháng chiến ở Ba Tri lên mạnh
Cuối năm 1946, do tác động tình hình chung và phong trào kháng chiến ở Ba Tri lên mạnh làm cho chiến lược "đánh nhanh, thắng nhanh" của giặc Pháp bị thất bại, chúng phải rút khỏi quận Ba Tri. Lực lượng kháng chiến có điều kiện củng cố, bổ sung quân số để đối phó với âm mưu tái chiếm của địch.
Ngày 10-4-1947, hai đại đội lính Âu Phi của Pháp nhảy dù dọn đường cho các cánh quân bộ đánh chiếm lại Ba Tri. Sau khi chiếm được trung tâm thị trấn Ba Tri, chúng bung ra ruồng bố, đóng đồn, mở rộng vùng chiếm đóng, bắn giết hàng loạt gây nỗi lo sợ khủng khiếp trong nhân dân.
Chi bộ An Hòa Tây thực hiện chủ trương tiêu thổ kháng chiến đưa lực lượng bang phá các tuyến đường huyết mạch như tỉnh lộ 26 (nay là tỉnh lộ 885) và lộ Gò Cát giồng Trung không để cho chúng chuyển quân bằng cơ giới.
Đầu tháng 5-1947, địch tập trung lực lượng càn quét, đóng đồn đưa ngụy binh từ địa phương khác đến, dưới quyền chỉ huy của bọn ác ôn, đóng giữ kềm kẹp nhân dân, đánh phá lực lượng cách mạng. Thực hiện chính sách chia rẽ lương giáo nhằm mục đích
"dùng người Việt đánh người Việt", chúng đã lợi dụng quần chúng theo đạo để phát triển nguy binh với các sắc lính Thiên Chúa, Cao Đài, Hòà Hảo. Từ tháng 7-1947, thực dân Pháp đã đưa các sắc lính đạo từ các tỉnh khác đến đóng đồn để thay thế hẳn lính Âu - Phi; đồng thời, mua chuộc một số chức sắc trong đạo Cao Đài Tây Ninh tại xã An Hòà Tây (lúc này đã có thánh tịnh Đông cung Bạch Long). Bọn ngụy binh thường xuyên càn quét, bắn giết nhân dân và vơ vét tài sản theo chủ trương triệt phá nguồn tiếp tế cho cách mạng, mỗi cuộc càn quét chúng thường bắt nhiều người phải khiêng, gánh mọi thứ tài sản của gia đình mình giao nộp tại đồn cho chúng.



