Cưới vợ cho chồng
Hơn mười năm chung sống vẫn chưa một lần sinh nở. Tình thương yêu dành cho chồng và nỗi khao khát có được đứa con bế ẵm đã khiến người phụ nữ Cơ Tu đi đến một quyết định mà không có bất cứ người phụ nữ nào trên thế gian này muốn làm: Cưới vợ cho chồng. Hơn bốn mươi năm qua, hai người phụ nữ Cơ Tu ấy đã sống hạnh phúc bên cạnh người chồng mù ở miền sơn cước Tây Giang…
Tình đầu trong lửa đạn
Bây giờ, ngồi trước mặt chúng tôi là người đàn ông 78 tuổi, đen đúa, gầy gò, gương mặt hiền từ, phúc hậu. Ông là A Lăng B’huốc, người làng Azứt, xã Bha Lê, huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam, một địa chỉ đỏ trên con đường Trường Sơn huyền thoại trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Ngồi cạnh ông là cô con gái mang cái tên nửa Cơ Tu, nửa người Kinh: A Thủy. Mỗi khi bố tiếp khách, A Thủy thường làm người phiên dịch, bởi ông A Lăng B’huốc nói tiếng phổ thông chưa chuẩn. Ông trở thành người nổi tiếng sau đêm ga-la “Nghĩa tình Trường Sơn” được truyền hình trực tiếp trên kênh HTV9, Đài Truyền hình TP Hồ Chí Minh mà ông là vị khách mời đặc biệt tham gia giao lưu trong chương trình. Trước đó, tháng 2-2012, ông được Trung tâm Sách Kỷ lục Việt Nam ghi nhận danh hiệu kỷ lục gia “Người dân công mù thồ hàng phục vụ kháng chiến với số lượng lớn nhất”. Chiến công thầm lặng của người dân công mù này là trong 14 năm (1958-1972), ông đã gùi, cõng, thồ được tổng cộng hơn 200 tấn hàng, vũ khí, trang bị phục vụ các đơn vị chiến đấu trên tuyến đường Trường Sơn huyền thoại. “Hồi đó tui xung phong đi bộ đội đánh giặc nhưng vì bị mù nên không được nhận. Đến khi đăng ký đi dân công, tui nói với các cán bộ rằng, tui không có con mắt nhưng tui có hai cái lỗ tai, hai cái tay và đôi chân. Tui đã quen lên rừng làm nương rẫy. Việc thồ hàng cũng như đi làm rẫy vậy thôi. Tui dò đường bằng tay, bằng chân. Dọc đường đi gặp suối thì lội, gặp đèo thì leo, gặp cây gặp đá thì tránh. Đi riết rồi thành quen. Vậy là tui được chấp nhận”. – Ông nói về kỷ niệm hơn bốn mươi năm trước bằng giọng mộc mạc như vậy.
Trong những năm tháng thồ hàng phục vụ kháng chiến, A Lăng B’huốc được coi như vị “thổ công” của miền sơn cước nằm trên dãy Trường Sơn. Ông trời không cho A Lăng B’huốc được nhìn thấy thế giới xung quanh, nhưng bù lại, A Lăng B’huốc lại có những khả năng thiên bẩm mà không phải ai muốn cũng có được, đặc biệt là tiếng đàn Ơng Bhréh. Ngoài thời gian gùi hàng, những buổi lên nương rẫy, B’huốc thường mang theo cây đàn Ơng Bhréh. Tiếng đàn của chàng có sức “thôi miên” chả khác gì tiếng sáo anh Trương Chi trong chuyện dân gian. Có một người con gái Cơ Tu say tiếng đàn của B’huốc nên đã đem lòng yêu chàng. Cô gái ấy là Tà Rường Tih, cũng là một nữ dân công tham gia gùi hàng phục vụ kháng chiến. Cảm phục tinh thần, ý chí cách mạng của B’huốc, lại có tiếng đàn Ơng Bhréh dẫn đường nên hai người thường gặp gỡ nhau, trao gửi cung đàn, khi thì trên đường gùi hàng, khi thì bên bờ suối. Năm 1970, hai người nên duyên chồng vợ bằng một đám cưới giản dị theo phong tục của đồng bào Cơ Tu. Họ dựng một căn nhà lá bên bờ một con suối cạnh thửa rẫy. Cứ tưởng sau ngày cưới, đôi vợ chồng trẻ sẽ gắn bó với mảnh vườn, nương rẫy làm ăn, nhưng họ vẫn hăng hái tham gia kháng chiến bằng nhiệm vụ thầm lặng nhưng rất vẻ vang của mình. Đến năm 1972, do tính chất nhiệm vụ và diễn biến chiến trường có nhiều thay đổi, nhiệm vụ vận chuyển hàng bằng gùi thồ thu hẹp lại, vợ chồng A Lăng B’huốc được đơn vị tạo điều kiện trở về chăm lo cuộc sống gia đình. “Vợ chồng tui khai hoang, mở mang diện tích trồng trỉa, với mong muốn làm ra nhiều lương thực, phần để dành nuôi con, phần để ủng hộ cách mạng khi cần thiết. Nhưng hết năm này qua tháng khác, tui vẫn không sinh con được” – bà Tih nhớ lại.
Giấu chồng đi... hỏi vợ
Thấm thoắt 10 năm trôi qua. Mọi cố gắng để căn nhà có tiếng trẻ bi bô của cả hai vợ chồng vẫn vô vọng. Sau khi biết nguyên nhân là do bản thân mình, bà Tih suy nghĩ, trằn trọc rồi khuyên chồng đi hỏi vợ lẽ. Người đàn bà đầu tiên mà bà Tih nhắm đến là một người ở làng bên. Nhưng khi bàn với chồng thì ông B’huốc gạt đi. “Tui với bà sống với nhau, yêu thương nhau như vậy là đủ rồi. Cái số mình không có con thì đành vậy”. – Ông B’huốc nói.
Khuyên chồng không được, bà Tih quyết định sẽ tự mình đi hỏi vợ cho chồng. “Lỡ sau này về già, mình chết trước, để lại ông một mình trong cảnh mù lòa, lấy ai chăm sóc”. Nghĩ vậy nên bà Tih quyết tâm thực hiện bằng được kế hoạch của mình. Bà đi khắp làng trên xã dưới tìm kiếm và cuối cùng bà tìm được một người phụ nữ phù hợp, đó là Bling Ta Tít, cách nhà A Lăng B’huốc chừng hai giờ đi bộ. Hồi đó bà Tít mới ở độ tuổi ba mươi. Bà đã có một đời chồng và một đứa con riêng. Chồng bà Tít mất đã vài năm. Nghe bà Tih “rủ rê” theo mình về làm vợ A Lăng B’huốc, ban đầu bà Tít không tin. Làm gì có người đàn bà nào lại đi làm cái chuyện ngược đời như vậy? Nhưng sau nhiều lần nghe bà Tih chia sẻ nỗi lòng, lại thấy bà Tih rất mực yêu thương đứa con riêng của mình nên bà Tít đã đồng ý. “Tui đã biết A Lăng B’huốc từ lâu rồi. Ông ấy bị mù nhưng không chịu đầu hàng số phận, không kêu ca, than đói, than khổ mà lại chăm chỉ làm ăn, chơi đàn Ơng Bhréh rất giỏi nữa. Chính vì vậy nên tui đã theo bà Tih về làm vợ A Lăng B’huốc” – Bà Tít giờ đây đã gần 60 tuổi, vẫn nhớ như in chuyện ngày xưa.
A Lăng B’huốc bị bà Tih đặt vào chuyện đã rồi nên nhất trí làm theo sự sắp xếp của vợ. Hai người đàn bà, hai hoàn cảnh, cùng sống chung trong một mái nhà với người chồng mù. Hằng ngày, bà Tít cùng chồng lên nương, lên rẫy, bà Tih lo việc lợn gà, nấu nướng ở nhà. Mỗi lần lên nương rẫy, bà Tih không quên nhắc chồng đem theo cây đàn Ơng Bhréh. Khi mặt trời đứng bóng, B’huốc lại dẫn người vợ trẻ xuống bờ suối dưới tán cây rừng đàn hát dân ca Cơ Tu…
|
Ông A Lăng B’huốc và con gái A Thủy cuối tháng 2-2012. |
Ngày bà Tít mang thai, bà Tih vui như bắt được vàng. Bà dành hết phần việc nặng nhọc về mình để cho bà Tít có sức khỏe dưỡng thai. Có miếng gì ngon bà Tih cũng dành phần nhiều cho bà Tít. Hai người vợ thương yêu, đùm bọc lẫn nhau như chị em ruột. Ông A Lăng B’huốc kể: “Ban đầu tui cũng thấy ngại và suy nghĩ nhiều lắm. Không biết hai bà ấy có sống với nhau được không? Đã có lúc tui tính làm thêm một căn nhà nữa cho hai bà ở riêng, nhưng thấy hai bà thương nhau, quý nhau thực lòng, tui hạnh phúc lắm”.
Bà Tít lần lượt sinh được hai con, một trai, một gái. Con của ông bà đứa nào đứa nấy đều khỏe mạnh, sáng sủa. Niềm hạnh phúc gia đình và nghị lực của người dân công tải đạn, tải lương phục vụ kháng chiến năm nào lại bùng cháy trong tâm tưởng A Lăng B’huốc. Ông bàn với hai người vợ xin mảnh đất ở bìa rừng trước đây thanh niên làng làm nơi đá bóng, thả diều để thử nghiệm trồng lúa nước. Ý tưởng đưa cây lúa nước lên miệt rừng của A Lăng B’huốc thời điểm đó (năm 1986) bị nhiều người cho là quái gở, vì dân làng xưa nay chỉ biết trồng, trỉa hoa màu trên đất đồi. Nhưng A Lăng B’huốc đã quyết. Ông hì hục đào một con mương dài gần một ki-lô-mét dẫn nước từ khe suối về, rồi lại đắp bờ, làm đất, xuống tận chợ huyện mua lúa giống về gieo mạ. Đám ruộng hơn 5.000m2 của A Lăng B’huốc là nơi đầu tiên trong xã xuất hiện cây lúa nước. Thương chồng, hiểu chồng và tin chồng, hai người vợ chính là nguồn động lực, chung tay tiếp sức cùng ông thực hiện thành công mô hình cấy lúa nước ở vùng sơn cước này. Bây giờ thì ở nơi đây không hiếm những thửa ruộng lúa xanh bời bời.
Hạnh phúc cuối đời
Đôi chân phăm phăm ngàn dặm tải đạn, tải lương của chàng dân công mù lực lưỡng năm xưa, bây giờ bước lên cầu thang phải có người dìu. Không còn sức khỏe nhưng ông A Lăng B’huốc vẫn cùng hai người vợ tìm ra những hình thức lao động phù hợp như đan lát, làm đồ thủ công để giúp đời. Những người con của ông bà đều đã có gia đình riêng. Ông bà có cháu nội, ngoại đề huề. Ngôi làng hẻo lánh ở vùng sơn cước bỗng một ngày náo nhiệt hẳn lên khi mọi người thấy ông A Lăng B’huốc lên truyền hình kể chuyện tải đạn, tải lương phục vụ kháng chiến. Người anh hùng của núi rừng Tây Giang kể về ký ức bằng giọng Kinh lơ lớ pha trộn nhiều từ ngữ Cơ Tu nhưng câu chuyện mộc mạc giản dị của ông thì ai cũng hiểu được. Được dân làng đến hỏi han, chúc mừng, hai người vợ của ông hạnh phúc trào nước mắt. Cuộc sống vẫn còn vất vả, khó khăn, nhưng “mình sinh ra ở đây, lớn lên ở đây, cùng Bộ đội Cụ Hồ đánh giặc cũng ở đây. Ngày đó mình đi theo cách mạng chỉ mong góp sức giải phóng quê hương, đất nước thống nhất. Giờ già rồi, chỉ mong cho dân làng ngày càng được ấm no, lớp con cháu được thành đạt, vậy là hạnh phúc rồi” – Ông nói.
A Thủy nói với chúng tôi rằng, dạo này ba ít ngủ. Tuổi già rồi, mỗi lần trái gió trở trời ông lại đau. Ngày xưa, ông tự hào vì mình không có mắt nhưng hai cái lỗ tai có thể nghe và hiểu được cả tiếng chim muông, nhưng bây giờ, để giúp chúng tôi trò chuyện với ba, A Thủy phải ghé sát vào tai ba nói thật to, đôi khi nói như hét. Nhưng khi nhắc đến chuyện kháng chiến và tình yêu thời trẻ, ông lại cười sảng khoái, dù hai hàm răng đã không còn chiếc nào.




