Cuốn sổ điểm danh dưới hầm làng Diễn Trường
Nhân vật được xây dựng: Bà Võ Thị Hương, sinh năm 1944, quê Diễn Trường cũ, nay thuộc xã Hùng Châu, tỉnh Nghệ An; dân quân kiêm y tá thôn, tham gia bảo vệ trẻ em và khắc phục giao thông trong thời kỳ chiến tranh phá hoại miền Bắc.
Bà Hương có một cuốn sổ học sinh đã cũ. Bìa sổ được bọc bằng mảnh giấy màu nâu, góc bên phải có dòng chữ viết tay: “Lớp vỡ lòng – năm học 1966”.
Điều lạ là bà Hương không phải giáo viên. Bà từng là dân quân kiêm y tá thôn. Cuốn sổ ấy thuộc về cô giáo Nhàn, người phụ trách lớp học nhỏ tại Diễn Trường trong những năm chiến tranh.
Năm 1966, Hương hai mươi hai tuổi. Ban ngày, cô làm ruộng cùng gia đình; tối đến tham gia trực dân quân và học cách sơ cứu. Vì địa bàn có tuyến giao thông quan trọng đi qua, người dân thường xuyên được hướng dẫn đào hầm, làm nơi trú ẩn và sắp xếp phương án đưa trẻ em đến chỗ an toàn khi có báo động.
Lớp vỡ lòng của cô Nhàn nằm trong một căn nhà lợp rạ. Xung quanh lớp được đắp những lũy đất dày. Bàn ghế làm bằng tre, tấm bảng đen đã cũ, phấn viết phải dùng rất tiết kiệm. Dù vậy, sáng nào lũ trẻ cũng ôm bảng con đến học.
Hương được phân công hỗ trợ lớp khi cần sơ tán. Cô nhớ tên gần hết học sinh, đứa nào nhà ở đầu làng, đứa nào hay chạy chậm, đứa nào sợ tiếng động lớn. Cô giáo Nhàn giữ cuốn sổ điểm danh trong một chiếc túi vải, mỗi buổi học đều gọi tên từng em.
Một buổi sáng đầu hè, khi cô giáo vừa viết xong mấy chữ trên bảng, tín hiệu báo động vang lên. Cô Nhàn bình tĩnh yêu cầu học sinh xếp hàng. Hương cùng hai dân quân khác đến hỗ trợ. Các em nhỏ được đưa xuống hệ thống hầm đã chuẩn bị sẵn.
Trong lúc vội, chiếc túi của cô Nhàn rơi ở cửa lớp. Cuốn sổ điểm danh trượt ra ngoài. Hương quay lại nhặt. Cô giáo gọi với, bảo người quan trọng hơn đồ vật. Hương cầm cuốn sổ chạy nhanh xuống hầm, vừa đến nơi đã cùng cô Nhàn kiểm tra tên từng em.
Có một em tên Tỵ chưa có mặt.
Cả hầm im bặt. Hương nhớ nhà Tỵ ở cuối xóm, sáng ấy em đến lớp cùng anh trai nhưng có thể đã chạy theo một nhóm khác. Cô báo cho tổ dân quân. Chỉ ít phút sau, mọi người phát hiện em đang trú tại hầm của một gia đình gần trường. Khi biết Tỵ an toàn, cô Nhàn mới thở phào rồi dùng bút chì đánh một dấu nhỏ bên cạnh tên em.
Đợt đánh phá qua đi, lớp học bị tốc một phần mái, cửa tre đổ xuống. May mắn tất cả học sinh đều an toàn. Người dân trong làng lại góp tranh, tre và rơm đến sửa lớp. Người có tre góp tre, người có dây góp dây, các bà các mẹ mang nước chè cho nhóm sửa chữa.
Chưa đầy hai ngày sau, tiếng đánh vần lại vang lên. Bọn trẻ ngồi trong lớp đã được gia cố, thỉnh thoảng quay nhìn mái rạ mới. Cô giáo Nhàn vẫn gọi tên từng em như mọi buổi. Với Hương, âm thanh ấy nghe quý hơn bất kỳ tiếng nhạc nào.
Ngoài việc hỗ trợ trường học, Hương còn tham gia tổ cứu thương và các đợt khắc phục đường giao thông. Sau mỗi lần đường bị hư hỏng, dân quân và bà con lại san lấp, dọn đất đá để bảo đảm việc đi lại. Những người phụ nữ ở Diễn Trường vừa chăm con, làm ruộng, vừa tham gia công việc chung.
Hương thường mang theo chiếc túi cứu thương gồm băng vải, thuốc sát trùng và vài dụng cụ đơn giản. Cô không phải bác sĩ, chỉ được hướng dẫn những việc ban đầu, nhưng sự có mặt đúng lúc của tổ y tế giúp mọi người yên tâm hơn. Hương luôn nhắc trẻ con không đến gần khu vực nguy hiểm và phải nghe người lớn khi có báo động.
Cuối năm 1967, cô giáo Nhàn chuyển đến nơi khác công tác. Trước khi đi, cô trao cuốn sổ điểm danh cho Hương. Cô bảo Hương đã giúp bảo vệ những cái tên trong cuốn sổ, nên hãy giữ nó làm kỷ niệm.
Hương nhận sổ mà không biết nói gì. Cô mở từng trang, thấy những cái tên trẻ thơ viết bằng mực tím. Có em viết chữ đẹp, có em hay nghỉ vì ốm, có em từng bật khóc trong hầm. Đối với người khác, đó chỉ là một danh sách. Đối với Hương, mỗi cái tên là một cuộc đời cần được bảo vệ.
Sau chiến tranh, bà Hương tiếp tục làm công tác y tế ở địa phương một thời gian rồi trở về sản xuất. Nhiều học sinh trong cuốn sổ năm xưa đã trưởng thành, có người làm giáo viên, công nhân, bộ đội; có người vẫn sống tại quê nhà.
Mỗi dịp gặp lại, họ thường gọi bà là “chị Hương dân quân”, dù tóc bà đã bạc. Có người không còn nhớ buổi báo động năm nào, nhưng bà thì vẫn nhớ. Bà bảo người lớn có trách nhiệm ghi nhớ những điều trẻ nhỏ chưa đủ tuổi để nhớ.
Khi xã Hùng Châu được hình thành từ Diễn Trường, Diễn Đoài, Diễn Lâm và Diễn Yên, bà Hương đem cuốn sổ cho các cháu xem. Bà nói tên địa phương có thể thay đổi theo từng thời kỳ, trường học có thể được xây mới, nhưng sự quan tâm dành cho trẻ em và trách nhiệm với cộng đồng thì không bao giờ được mất đi.
Các cháu hỏi vì sao bà không trao cuốn sổ cho bảo tàng. Bà cười, bảo sẽ giữ thêm ít lâu để kể cho hết câu chuyện. Sau này, khi không còn kể được nữa, bà sẽ giao lại cho nhà trường hoặc nhà truyền thống địa phương.
Cuốn sổ đã cũ, nhiều trang ngả vàng. Dòng tên của cậu bé Tỵ vẫn còn dấu bút chì nhỏ bên cạnh. Một dấu chấm đơn sơ, nhưng với bà Hương, đó là dấu hiệu của một ngày cả lớp đã được điểm danh đầy đủ giữa chiến tranh.



