Bài viết

CUỐN VỞ BẰNG MO TRE: KHI NGƯỜI DÂN HỌC CHỮ TRONG NHỮNG NGÀY ĐẦU ĐỘC LẬP

Giữa những hiện vật giáo dục được lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, có những trang vở làm bằng mo tre, bẹ chuối. Vật liệu mộc mạc ấy gợi lại một chặng đường học chữ đầy thiếu thốn sau ngày đất nước giành độc lập. Khi giấy bút còn xa xỉ với nhiều người, khát vọng biết đọc, biết viết đã tìm được chỗ bắt đầu ngay trên những thứ sẵn có quanh mình.

Huế30/10/2026Lê Thị Minh (phường Tây Tựu)1 lượt xem0 lượt chia sẻ
CUỐN VỞ BẰNG MO TRE: KHI NGƯỜI DÂN HỌC CHỮ TRONG NHỮNG NGÀY ĐẦU ĐỘC LẬP

CUỐN VỞ BẰNG MO TRE: KHI NGƯỜI DÂN HỌC CHỮ TRONG NHỮNG NGÀY ĐẦU ĐỘC LẬP

Giữa những hiện vật giáo dục được lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, có những trang vở làm bằng mo tre, bẹ chuối. Vật liệu mộc mạc ấy gợi lại một chặng đường học chữ đầy thiếu thốn sau ngày đất nước giành độc lập. Khi giấy bút còn xa xỉ với nhiều người, khát vọng biết đọc, biết viết đã tìm được chỗ bắt đầu ngay trên những thứ sẵn có quanh mình.

Từ trang vở nhỏ nhìn về một thời đất nước

Hiện vật vở mo tre được bảo tàng giới thiệu là đồ dùng của học sinh Trường Hàn Thuyên, Bắc Ninh, trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp. Cần đặt đúng xuất xứ ấy: đây không phải cuốn vở đã được xác định của một học viên Bình dân học vụ năm 1945. Tuy nhiên, nó là dấu tích cụ thể của tinh thần vượt khó học tập được nuôi dưỡng từ những ngày đầu độc lập.

Vở có màu vàng nâu, gấp đôi, rách nhiều chỗ và còn những nét chữ đen. Một vật dụng vốn không được làm ra để viết đã trở thành phương tiện học hành trong cảnh thiếu giấy.

image.png

Vở bằng bẹ chuối (trái) và mo tre (phải) của học sinh Trường Hàn Thuyên, Bắc Ninh, dùng trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp. Hiện vật và ảnh: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia.

Độc lập mở ra yêu cầu học chữ

Ngày 3/9/1945, chỉ một ngày sau lễ Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu nhiệm vụ chống nạn mù chữ tại phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ. Giữa hàng loạt khó khăn, việc nâng cao dân trí đã được đặt vào chương trình hành động khẩn cấp. Đất nước vừa giành lại chủ quyền cũng phải mở đường để người dân có kiến thức tham gia xây dựng cuộc sống mới.

Ngày 8/9/1945, Chính phủ ban hành ba sắc lệnh quan trọng: Sắc lệnh số 17 về Bình dân học vụ; Sắc lệnh số 19 về tổ chức các lớp học bình dân; Sắc lệnh số 20 quy định việc học chữ quốc ngữ bắt buộc và không mất tiền. Những văn bản ấy biến yêu cầu chống thất học thành công việc có tổ chức, có trách nhiệm thực hiện.

Ý nghĩa của việc học miễn phí đặc biệt rõ đối với người nghèo. Quyền đến lớp cần một cánh cửa thực sự mở, bởi người phải lo từng bữa ăn khó có thể dành tiền cho học hành. Trong hoàn cảnh ấy, chính sách giáo dục mang theo một lời cam kết thiết thực của chính quyền mới với nhân dân.

Không đợi đủ giấy bút mới học

Tư liệu đương thời cho thấy sự thiếu thốn đến cả những vật dụng nhỏ nhất. Người học dùng que vạch xuống đất, than viết lên tường; nơi học có thể là sân đình, góc chợ. Những cách xoay xở ấy được ghi nhận trên báo Cứu quốc tháng 5/1946, cho thấy việc học đã bước ra ngoài khuôn viên trường lớp thông thường.

Ngày 3/11/1945, Bộ Quốc gia Giáo dục có Thông tư số 357, đề nghị các công sở để riêng giấy tờ cũ không cần lưu giữ nhằm giúp đồng bào nghèo làm vở. Đến ngày 11/1/1946, công văn của Bộ trưởng Vũ Đình Hòe gửi Giám đốc Học chính Trung Bộ còn gợi ý dùng đũa tre gọt nhọn làm bút.

Những chi tiết nhỏ giúp hình dung công việc lớn đã được bắt đầu như thế nào. Để một lớp học hoạt động, phải tìm từng tờ giấy, từng chiếc bút. Đằng sau quyết tâm chung là hàng loạt việc cụ thể, đòi hỏi người tổ chức hiểu đúng khó khăn của người học. Khát vọng học chữ được nâng đỡ bằng chính sự chăm chút ấy.

Người biết chữ giúp người chưa biết chữ

Ngày 4/10/1945, trên báo Cứu quốc số 58, Chủ tịch Hồ Chí Minh công bố bài “Chống nạn thất học”. Người gắn việc biết đọc, biết viết với hiểu biết về quyền lợi, bổn phận và khả năng tham gia xây dựng nước nhà; đồng thời kêu gọi người biết chữ giúp người chưa biết chữ học tập.

Lời vận động hướng tới cả gia đình và xóm giềng. Người thân có thể chỉ bảo nhau; người có điều kiện có thể mở lớp tại nhà. Với cách huy động ấy, việc học không còn chỉ trông vào số trường và giáo viên sẵn có. Trong mỗi cộng đồng, người đã biết chữ đều có thể góp một phần sức mình.

Đó cũng là một cách nhìn đầy tôn trọng đối với người thất học. Họ cần cơ hội và sự giúp đỡ để học, cần người kiên nhẫn đồng hành qua những nét viết đầu tiên. Khi việc dạy chữ trở thành trách nhiệm chung, khoảng cách giữa người dạy và người học được nối lại bằng tình nghĩa, bằng sự sẻ chia kiến thức.

Những người lặng lẽ giữ lớp

Nghiên cứu dựa trên báo chí và hồ sơ giáo dục năm 1945–1946 ghi nhận lực lượng tham gia Bình dân học vụ rất rộng: giáo viên, công chức, thanh niên, phụ nữ, học sinh và trí thức. Nhiều người nhận thêm việc dạy chữ mà không hưởng lương. Các lớp huấn luyện được tổ chức để chuẩn bị người dạy, đưa phong trào tiến lên bằng cả nhiệt tình lẫn phương pháp.

Một sự kiện được Bảo tàng Hồ Chí Minh ghi chép cho thấy sự quan tâm dành cho công việc ấy. Lúc 20 giờ 30 phút ngày 13/4/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm lớp Bình dân học vụ tại khu 21, Trường Hoài Đức, phố Hàng Trống, Hà Nội. Người xem sách vở, hỏi thăm giáo viên, học viên và biểu dương những người tận tâm dạy học không lương.

Buổi thăm lớp đặt người dạy chữ vào một vị trí xứng đáng trong công cuộc kiến thiết. Giữ cho lớp học đều đặn, giúp từng người tiến bộ là công việc ít tiếng vang nhưng cần bền bỉ. Thành quả của phong trào được tạo nên từ rất nhiều đóng góp như vậy, ở những nơi tên tuổi người dạy có thể không được lưu lại đầy đủ.

image.png

Dụng cụ học tập được giới thiệu trong trưng bày “Bình dân học vụ – Thắp sáng tương lai” tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia năm 2025. Ảnh chụp trưng bày, không phải ảnh lớp học năm 1945. Ảnh: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia.

Điều còn lại trên những trang vở

Theo tổng kết được Bảo tàng Lịch sử Quốc gia giới thiệu, trong một năm 1945–1946, phong trào đã giúp hơn 2,5 triệu người biết đọc, biết viết. Con số ấy cho thấy sức huy động lớn lao của công cuộc chống thất học. Nhưng phía sau kết quả chung còn là sự thay đổi trong khả năng tiếp cận thông tin, học hỏi và tự bày tỏ của mỗi người.

Biết chữ tạo điều kiện để người dân đọc một thông báo, hiểu một văn bản, ghi lại điều cần nhớ. Từ những năng lực căn bản ấy, con đường học tiếp mới có thể mở rộng. Bởi vậy, giá trị của Bình dân học vụ vượt khỏi một đợt vận động: phong trào đặt việc học của đông đảo nhân dân vào trung tâm của công cuộc xây dựng đất nước.

Trở lại với cuốn vở mo tre, điều lay động người xem không chỉ là sự thiếu thốn. Quan trọng hơn là cách con người tìm phương tiện để tiếp tục học. Một trang viết thô sơ có thể lưu giữ khát vọng rất lớn: hiểu biết hơn để tự lo cuộc sống, góp sức cho cộng đồng và gìn giữ nền độc lập vừa giành được.

Những trang vở ấy nhắc người hôm nay trân trọng cơ hội học tập đang có. Trong lịch sử dựng xây nước Việt Nam mới, bên cạnh những sự kiện lớn còn có sự bền bỉ của người dạy và người học. Họ đã góp phần làm cho lời hứa về một cuộc sống mới bắt đầu hiện diện từ từng con chữ.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn