Cựu binh còn sức còn cống hiến- Phạm Thanh Quế
Ngôi nhà nhỏ nằm bên triền đất cao của xóm 1, xã Khánh Sơn luôn thoảng mùi khói bếp và tiếng gà trưa gọi nhau. Ở đó, cựu chiến binh Phạm Thanh Quế, sinh năm 1954, vẫn đều đặn bắt đầu ngày mới bằng một vòng đi kiểm tra chuồng trại, ngó qua từng luống cây, xem cây nào khát nước, con nào ốm, con nào sắp đẻ. Dáng ông gầy, bước chân không còn nhanh như thời trai trẻ, nhưng đôi mắt thì vẫn sáng, vẫn nét cương nghị của người từng khoác áo lính suốt mười sáu năm trời.
Ngôi nhà nhỏ nằm bên triền đất cao của xóm 1, xã Khánh Sơn luôn thoảng mùi khói bếp và tiếng gà trưa gọi nhau. Ở đó, cựu chiến binh Phạm Thanh Quế, sinh năm 1954, vẫn đều đặn bắt đầu ngày mới bằng một vòng đi kiểm tra chuồng trại, ngó qua từng luống cây, xem cây nào khát nước, con nào ốm, con nào sắp đẻ. Dáng ông gầy, bước chân không còn nhanh như thời trai trẻ, nhưng đôi mắt thì vẫn sáng, vẫn nét cương nghị của người từng khoác áo lính suốt mười sáu năm trời. Những năm tháng quân ngũ đã rèn luyện cho ông bản lĩnh của một người lính kiên cường, luôn biết đứng dậy dù khó khăn dồn dập. Ông kể lại chặng đường ấy bằng giọng trầm, ít khi dài dòng. Chỉ đến đoạn nói về năm 1988 – năm ông buộc phải xuất ngũ sau một lần ốm nặng, trải qua ca phẫu thuật dạ dày và thời gian điều trị dài ngày – ánh mắt ông mới thoáng chùng xuống. Ông trở về quê khi tuổi đời còn rất trẻ, nhưng mang theo thương tật đến 71% sức khỏe.
“Tôi về khi cơ thể thì không còn nguyên vẹn, nhưng trong đầu chỉ có một điều: phải làm được cái gì đó cho gia đình, cho bà con”, ông lặng lẽ nói. Tuổi 34 – độ tuổi nhiều người còn đang lập nghiệp – ông Quế bắt đầu lại từ con số 0. Không nghề, không vốn, sức khỏe yếu, nhưng ông bước vào đời thường với tinh thần kỷ luật của quân đội. Ông tham gia vào hợp tác xã nông nghiệp, không ngại những công việc nặng nhọc, không từ chối nhiệm vụ nào. Nhờ sự chí quyết, ông nhanh chóng trở thành người nắm vững cách tổ chức, điều hành sản xuất, được tin tưởng giao nhiều trách nhiệm. Khi hợp tác xã giải thể, ông lại nhận nhiệm vụ mới ở địa phương. Hơn 20 năm, ông lần lượt làm Phó Chủ tịch, rồi Chủ tịch Hội Cựu Chiến Binh xã Khánh Sơn. Hai thập kỷ ấy, mỗi cuộc họp, mỗi phong trào, mỗi chuyến vận động gây quỹ, hỗ trợ người nghèo, ông đều có mặt. Không đao to búa lớn, ông thường chỉ nói: “Anh em mình đi trước, bây giờ còn giúp được gì cho đời thì giúp.” Sự nghiệp lớn nhất của ông ở quê hương là mô hình kinh tế trang trại mà ông dày công xây dựng. Những năm đầu, đất chưa nhiều, vốn lại càng ít, ông phải tận dụng từng mét vườn, từng khoảng đất hoang để trồng cây, dựng chuồng, nuôi gà, nuôi lợn, sau này phát triển thêm bò, dê, cây chanh. Nhờ kinh nghiệm tích lũy và cách làm khoa học, trang trại của ông dần ổn định, cho thu nhập hàng trăm triệu đồng mỗi năm.Nhưng ông luôn nói một câu rất mộc:
“Có một mình thì vui sao được. Phải để bà con trong xóm cùng làm, cùng khá lên thì mới đúng nghĩa.”
Vì thế, bất kỳ hộ nào muốn chăn nuôi, trồng trọt, ông đều đến tận nơi hướng dẫn: cách phối trộn cám, cách phòng bệnh cho gà, thời điểm bón phân cho chanh. Nhờ ông, nhiều gia đình trong xóm mạnh dạn chuyển đổi mô hình kinh tế, thoát nghèo, có cái ăn, cái để dành cho con cái học hành. Trong công tác Hội, ông Quế lại khiến nhiều người nể phục bởi tinh thần học hỏi. Ở tuổi mà không ít người ngại chạm tay vào công nghệ, ông tự học sử dụng máy tính, rồi thành thạo soạn báo cáo, viết văn bản, tổng hợp số liệu cho Hội CCB. Những đêm ngồi trước màn hình sáng lóa, ông cặm cụi gõ từng dòng chữ, như thể đang hoàn thành nhiệm vụ của người lính ngày nào. Tinh thần vì cộng đồng của ông không chỉ nằm trong những cuộc họp. Nó hiện hữu trong những việc rất giản dị nhưng đầy ấm áp. Ông dành 100.000 đồng mỗi tháng cho bà Phạm Thị Mai, một phụ nữ đơn thân có dấu hiệu bệnh lý tâm thần, để bà có thêm bữa cơm no. Ông tiếp tục dành khoản tương tự cho một học sinh nghèo vượt khó của Trường THCS Khánh Sơn, giúp em trang trải sách vở mỗi kỳ đến lớp.
Có lần, nhà nước có chương trình hỗ trợ sửa nhà cho gia đình chính sách. Mọi người khuyên ông làm hồ sơ, vì ông hoàn toàn đủ điều kiện. Nhưng ông chỉ cười, gạt đi:
“Còn nhiều nhà dột hơn nhà tôi.”
Và ông xin nhường lại phần mình cho người khác. Những việc ông làm âm thầm nhưng không hề nhỏ bé. UBND tỉnh Nghệ An đã trao tặng ông Bằng khen vì những đóng góp nổi bật trong phong trào đền ơn đáp nghĩa và xây dựng kinh tế – xã hội. Nhưng với ông, tấm bằng ấy chỉ là kỷ niệm của một chặng đường. Điều khiến ông thấy ấm lòng hơn, chính là cảnh quê hương đổi thay: đường bê tông chạy xuyên xóm, con suối cũ được dẫn nước tưới ruộng, tiếng trẻ con cười đùa mỗi chiều tan học. Ông nhìn ra cánh đồng, chậm rãi nói:
“Tôi còn đứng được ngày nào thì tôi còn làm được ngày ấy. Mình còn sống, còn sức là còn giúp đời.”
Một câu nói giản dị, nhưng chứa đựng cả một cuộc đời tận tụy.



