CỰU BINH GẠC MA - GẦN 40 NĂM MANG VẾT THƯƠNG CHIẾN TRANH, MONG MỘT LẦN THẮP NÉN NHANG CHO ĐỒNG ĐỘI
Gần 40 năm sau sự kiện Gạc Ma năm 1988, những vết thương chiến tranh vẫn hằn sâu trên cơ thể và trong ký ức của cựu binh Nguyễn Văn Thống (SN 1964), thương binh 1/4, quê xã Nam Trạch, tỉnh Quảng Trị (trước đây là xã Nhân Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình). Điều mong mỏi lớn nhất của ông lúc này là có cơ hội trở lại Khánh Hòa để thắp một nén hương cho những đồng đội đã ngã xuống.
Không bao giờ quên trận hải chiến Gạc Ma
Trong căn nhà cấp 4 đã cũ ở xã Nam Trạch, tỉnh Quảng Trị, PV báo Dân Việt tới gặp cựu binh Nguyễn Văn Thống, một trong những người lính trực tiếp có mặt tại trận hải chiến Gạc Ma năm 1988.
Trên cơ thể ông Nguyễn Văn Thống là những vết sẹo do di chứng chiến tranh để lại. Ở tuổi ngoài 60, sức khỏe của ông suy giảm rõ rệt. Mỗi khi trái gió trở trời, những cơn đau đầu và đau khớp lại tái phát. Các khớp gối của ông bị cứng do di chứng từ vết thương trong chiến trận, khiến việc đi lại khó khăn, nhiều khi phải dùng thuốc giảm đau để vượt qua.
Sức khỏe yếu nên phần lớn thời gian ông chỉ ở nhà. Nhưng trong ký ức của người lính già, những ngày tháng ở Trường Sa vẫn luôn hiện lên rõ ràng như mới hôm qua.
Nhắc lại trận hải chiến năm 1988, giọng cựu binh Nguyễn Văn Thống chùng xuống.
Ông nói rằng nỗi đau từ trận chiến ấy không bao giờ quên. Tuy nhiên, thời gian đã trôi qua gần 40 năm, và điều quan trọng nhất là giữ gìn hòa bình.
“Đau thương thì vẫn còn đó, nhưng phải gác lại quá khứ để hai nước cùng phát triển, hướng tới tương lai”, ông Thống chia sẻ.
Nguyện vọng lớn nhất của người cựu binh là có dịp được cùng các đồng đội trở lại Khánh Hòa, đến khu tưởng niệm Gạc Ma để thắp nén hương cho những người đã ngã xuống.
“Anh em cựu binh chỉ mong có dịp vào đó thắp hương cho đồng đội, vậy là mãn nguyện lắm rồi”, ông Thống nói.
Ký ức Gạc Ma
Cựu binh Nguyễn Văn Thống kể, tháng 8/1985, khi vừa tròn 21 tuổi, ông nhập ngũ vào Trung đoàn 83, huấn luyện tại Hải Phòng.
Đầu năm 1988, ông cùng đơn vị được điều động vào Cam Ranh để chuẩn bị ra xây dựng đảo. Khi đó, chàng lính trẻ mới 24 tuổi, chưa lập gia đình.
Ông được phân công đi trên tàu vận tải HQ604, chở vật liệu ra xây dựng đảo tại Gạc Ma.
Với giọng trầm xuống, cựu chiến binh Nguyễn Văn Thống bắt đầu kể lại trận Gạc Ma 38 năm trước và sự hy sinh anh dũng của những đồng đội.
Trong trận chiến ấy có 64 chiến sĩ hy sinh. Trong số đó, riêng tỉnh Quảng Trị có 15 người ngã xuống.
Với ông Thống, khi tàu bị chìm, ông bị thương nặng. Giữa biển khơi, ông cố gắng ngụp lặn thoát ra khỏi con tàu đang chìm rồi bám vào một tấm ván gỗ để nổi trên mặt nước.
“Lúc đó tôi chỉ nghĩ, nếu có tàu phía ta ra cứu thì tốt. Còn nếu trôi dạt mà chết thì chỉ mong được chết trên bờ”, ông Thống nhớ lại.
Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, khi đang lênh đênh trên biển với nhiều vết thương, ông Thống được phía Trung Quốc phát hiện.
Họ thả dây xuống biển, ra hiệu cho ông nắm lấy rồi kéo lên tàu.
Khi bị bắt, ông gần như kiệt sức và lịm đi. Khi tỉnh dậy, ông mới biết mình đang ở trong nhà giam tại bán đảo Lôi Châu.
Do bị thương nặng, ông được đưa vào bệnh viện điều trị. Trong suốt 3 tháng nằm viện, ông được các y bác sĩ chăm sóc y tế. “Không có người thân bên cạnh, mọi việc đều do y tá, bác sĩ lo. Họ hỏi quê quán, đơn vị và cho ăn uống, điều trị”, ông Thống kể.
Sau khi vết thương ổn định, ông được đưa về trại giam cùng các đồng đội. Tại đây, những người lính Việt Nam nhiều lần đấu tranh để được trở về nước.
Phải đến khi Ủy ban Chữ thập đỏ quốc tế đến thăm, ông mới có cơ hội viết một mảnh thư ngắn gửi về gia đình với dòng chữ: “Con đang ở Trung Quốc, gia đình cứ yên tâm”.
Gần 3 năm rưỡi bị giam giữ nơi đất khách, đến tháng 8/1991, sau khi quan hệ giữa hai nước được bình thường hóa, ông Thống cùng các đồng đội được trả tự do.
Ngày trở về quê hương, chiếc xe của quân chủng đưa ông về nhà. Khi gặp lại cha mẹ và bà con làng xóm, niềm xúc động vỡ òa.
Mẹ qua đời, em trai hương khói cho liệt sĩ Trần Văn Phương
Còn với anh Trần Hiệp (SN 1975), người em trai của liệt sĩ Trần Văn Phương ở phường Bắc Gianh, tỉnh Quảng Trị (trước sáp nhập là phường Quảng Phúc, thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình) tiếp tục đảm nhận việc hương khói, chăm sóc bàn thờ anh trai, người anh hùng đã anh dũng hy sinh trong Trận hải chiến Gạc Ma năm 1988 với câu nói bất hủ: “Thà hy sinh chứ không chịu mất đảo”.
Hiện trong căn nhà cấp 4 đơn sơ, có một gian phòng được làm riêng để thờ phụng liệt sĩ Trần Văn Phương. Ngày ngày, anh Hiệp thay mẹ chăm lo hương khói, lau dọn bàn thờ, gìn giữ những kỷ vật thiêng liêng của người anh đã ngã xuống vì Tổ quốc.
“Anh Phương là một người anh tuyệt vời. Anh luôn cương trực, thẳng thắn, dạy bảo chúng tôi từ cách đi đứng, tác phong của một người lính”, anh Hiệp nhớ lại.
Ngày nhận tin anh trai hy sinh ngoài biển đảo, nỗi đau khiến anh Hiệp nghẹn lòng. Anh Hiệp đã mượn lời thơ để viết nên những dòng tưởng nhớ:
“Một sớm liều thân chết dưới cờ
Ngàn năm tên tuổi chẳng phai mờ
Trần Phương anh dũng hương trung liệt
Sống chết vì trung thật đáng thờ".
Những câu thơ ấy đến nay vẫn được anh Hiệp gìn giữ như một lời tri ân dành cho người anh hùng của gia đình.
Là con út trong nhà, anh Hiệp từng tham gia quân ngũ ba năm, phục vụ tại đơn vị mà anh trai từng công tác. Sau đó, anh quyết định trở về quê hương để chăm sóc cha mẹ và hương khói cho anh trai liệt sĩ.
Cha anh mất năm 2006. Mẹ là bà Hồ Thị Đức lặng lẽ chăm sóc bàn thờ con trai suốt nhiều năm, trước khi qua đời năm 2023, hưởng thọ 85 tuổi.
Theo anh Hiệp, mỗi dịp tháng 3, thời điểm diễn ra Trận hải chiến Gạc Ma 1988, mẹ anh lại lặng lẽ đi ra đi vào trước bàn thờ con trai, nhiều lần bật khóc vì thương nhớ.
Trước khi qua đời, mẹ Hồ Thị Đức vẫn nhắn nhủ các con phải giữ gìn truyền thống gia đình, chăm lo hương khói cho anh Phương.
“Lời trăn trối cuối cùng của mẹ là phải thường xuyên chăm sóc bàn thờ, hương khói cho anh”, anh Hiệp xúc động kể.
Từ ngày mẹ mất, anh Hiệp tiếp tục gánh vác trách nhiệm ấy như một bổn phận thiêng liêng của người em trong gia đình.
Không chỉ gia đình tiếp nối truyền thống, con gái của liệt sĩ Trần Văn Phương là Trần Thị Thủy hiện cũng đang công tác tại Vùng 4 Hải quân (Khánh Hòa), tiếp bước con đường mà người cha anh hùng đã lựa chọn.
Gần thập kỷ đã trôi qua, nhưng với gia đình nói riêng và nhiều người nói chung ký ức về người anh hùng vẫn luôn hiện hữu.



