Cựu binh vùng sơn thuỷ Nguyễn Văn Sơ
Ở góc nhỏ làng Thanh Thuỷ, xã Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ, có một căn nhà gỗ cũ nằm rợp bóng tre. Đầu tiên, bước vào sân vườn, ta thấy hàng cau xung quanh bờ ao chậm trễ, lá cây rung rinh theo gió chiều. Bên đó là cây tràm năm tuổi, thân cây đã khô nhưng vẫn giữ được hình dáng thẳng đứng, như một người lính cận vệ ngôi nhà. Đầu tiên, ta nghe thấy tiếng gõ cây đàn hồ từ bên trong căn nhà, âm thanh nhẹ nhàng, trầm lắng như lời kể chuyện về quá khứ.
Ở góc nhỏ làng Thanh Thuỷ, xã Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ, có một căn nhà gỗ cũ nằm rợp bóng tre. Đầu tiên, bước vào sân vườn, tôi thấy hàng cau xung quanh bờ ao chậm trễ, lá cây rung rinh theo gió chiều. Bên đó là cây tràm năm tuổi, thân cây đã khô nhưng vẫn giữ được hình dáng thẳng đứng, như một người lính cận vệ ngôi nhà. Tôi nghe thấy tiếng gõ cây đàn hồ từ bên trong căn nhà, âm thanh nhẹ nhàng, trầm lắng như lời kể chuyện về quá khứ.
Tôi gặp cụ Nguyễn Văn Sơ, nay đã 82 tuổi. vào một buổi chiều tháng 4, mặt cụ đã có nhiều nếp nhăn, đôi mắt vẫn sáng như sao đêm, ánh mắt chứa đựng cả những năm tháng chiến tranh. Cụ đang ngồi trên ghế gỗ cũ, tay cầm cây đàn hồ, ngón tay nhẹ nhàng di chuyển trên cây đàn, tạo ra âm thanh mềm mại. Sau khi cụ dừng chơi, tôi ngồi bên cạnh bàn gỗ, trên bàn có tấm ảnh đen trắng của một nhóm chiến sĩ, bao gồm cả cụ khi còn trẻ. Đầu tiên, cụ bắt đầu kể câu chuyện của mình, giọng nói nhẹ nhàng, như đang kể về một giấc mơ xa xôi.
Cụ Nguyễn Văn Sơ sinh năm 1942, ở làng Thanh Thuỷ từ nhỏ, khi còn là chàng trai 18 tuổi, cụ đã tham gia đội du kích dân quân, cùng với các đồng đội bảo vệ quê hương khỏi quân xâm lược. Những năm tháng đầu tiên là thời gian gian khổ nhất, cụ phải trốn rừng, ăn khoai lang, ngủ dưới cây, luôn phải cảnh giác với sự xuất hiện của địch. Lần đầu tiên cụ nghe thấy tiếng đạn pháo, tim mình đập nhanh như bung, nhưng sau đó, thấy các đồng đội không sợ hãi, cụ cũng dũng cảm hơn. Cụ từng phải mang cơm nước đến cho các chiến sĩ tại khu vực đèo Thượng, con đường hiểm trở, một bên là vách đá, một bên là khe sâu. Có lần cụ bị địch tìm thấy, phải chạy trốn qua rừng cây, suốt ba ngày ba đêm không có nước uống, không có chỗ ngủ, nhưng cụ vẫn giữ được tinh thần, tin rằng mình sẽ chiến thắng.
Năm 1965, cụ được chuyển đến chiến tuyến Sơn Thuỷ, nơi có nhiều trận đánh ác liệt. Sơn Thuỷ là điểm chiến lược, nằm trên con đường giao thông giữa Hà Nội và miền Bắc, nên địch luôn cố gắng chiếm lĩnh địa điểm này. Một buổi sáng sớm, địch tiến công vào làng, cùng với hàng trăm chiếc xe tăng và máy bay, cụ cùng với các đồng đội phải trấn giữ vị trí, bắn địch từ những hố chiến hào, có một đồng bạn của cụ bị mảnh đạn văng vào vai, máu chảy ra như nước, nhưng cụ vẫn tiếp tục bắn, không để địch bước vào làng. Sau ba ngày chiến đấu, địch bị đánh tan, quân ta giành chiến thắng, nhưng cụ thấy nhiều đồng đội đã ngã xuống, không bao giờ trở về.
Sau chiến thắng, cụ được trao huân chương hạng Ba, nhưng cụ không bao giờ nói về thành tích của mình. cụ trở về làng, cống hiến cho quê hương, làm công nhân xây dựng đường bộ, sau đó là quản lý trường học địa phương. Đến nay, cụ vẫn giữ được tấm ảnh của đồng đội, cùng với cây đàn hồ mà cụ đã mua sau chiến tranh, để nhớ về những năm tháng cùng đồng đội. Mỗi buổi chiều, cụ đều chơi đàn hồ, âm thanh lan tỏa qua rừng cây, như lời tri ân đến những người bạn đã ngã xuống vì quê hương.
Khi nói về thế hệ trẻ hôm nay, cụ nói với giọng trầm lắng: “Hôm nay, chúng ta có hòa bình, là do các anh bạn đã hy sinh. Các cháu phải trân trọng, phải làm tốt công việc để xứng đáng với những hy sinh đó”.Nghe cụ nói như vậy, ta cảm thấy lòng trân trọng sâu sắc, hiểu được giá trị của hòa bình, giá trị của sự hy sinh.
Lúc rời đi, tôi nhìn lại cụ ngồi trên ghế gỗ, chơi đàn hồ, âm thanh lan tỏa qua rừng cây. ánh sáng mặt trời chiếu xuống trên mặt cụ, tạo ra những vệt sáng nhẹ nhàng, như một lời tri ân đến những người lính đã bảo vệ quê hương, tôi hiểu rằng, thời hoa lửa đã qua, nhưng tinh thần của các chiến sĩ vẫn còn sống mãi, như ánh sáng trên bàn thờ cũ, luôn chiếu sáng con đường của thế hệ trẻ.



