cựu chiến binh 20 năm miệt mài tìm kỷ vật đồng đội
"Tôi may mắn vì đã được trở về sống giữa thời bình nhưng luôn cảm thấy “mắc nợ” với những thân nhân gia đình liệt sĩ, món nợ những ân tình" - Nhà văn, cựu chiến binh Đặng Vương Hưng chia sẻ.
Năm 2005, 2 tác phẩm “Mãi mãi tuổi 20” và “Nhật ký Đặng Thùy Trâm” đã trở thành một trong những sự kiện văn hóa tiêu biểu của Việt Nam. 15 năm sau, thêm cả ngàn trang nhật ký được giới thiệu tới công chúng trong tác phẩm đồ sộ “Nhật ký thời chiến Việt Nam”. Những trang viết chân thực, xúc động là kết quả trong một cuộc hành trình không mệt mỏi suốt 20 năm qua của Nhà văn, nhà báo, cựu chiến binh Đặng Vương Hưng.
Căn phòng lưu giữ kỷ vật thời chiến...Căn phòng lưu giữ hơn 1000 cuốn nhật ký, lá thư, kỷ vật thời chiến, đây cũng là kho báu vô giá mà nhà văn, nhà báo Đặng Vương Hưng cất công tìm kiếm và lưu giữ suốt hàng chục năm qua.
Căn phòng lưu giữ những kỷ vật thời chiến của Nhà văn, cựu chiến binh Đặng Vương HưngTừng là chiến sĩ trực tiếp cầm súng bảo vệ biên giới thiêng liêng của Tổ quốc, bén duyên với văn chương khi còn rất trẻ, Đại tá Đặng Vương Hưng từng có nhiều năm phục vụ trong Quân đội và làm báo trong lực lượng vũ trang.Ông còn được biết đến là tác giả của nhiều ý tưởng, dự án văn hóa, người miệt mài săn tìm những kỷ vật của một thời hoa lửa từ các cuộc kháng chiến vệ quốc vĩ đại của dân tộc. Ông là người có duyên khơi nguồn cho sự ra đời của hàng trăm cuốn sách, tư liệu vô giá, trong đó có nhật ký “Mãi mãi tuổi 20” và nhiều cuốn sách tư liệu chiến tranh có giá trị độc đáo khác. Người ta còn biết đến ông là nhà thơ, nhà văn, nhà báo, nhà sưu tầm tư liệu chiến tranh…2 trong số những cuốn sách xuất bản là “Mãi mãi tuổi 20” và “Nhật ký Đặng Thùy Trâm” đã trở thành hiện tượng xuất bản do chính nhà văn, nhà báo Đặng Vương Hưng chủ biên. Đằng sau đó là câu chuyện hành trình trở về đầy xúc động của người lính ở bên kia chiến tuyến.
Nhà văn Đặng Vương Hưng chia sẻ, sau nhiều năm, những người trẻ còn biết rất ít về chiến tranh. Thế nên, ông đã bắt tay vào làm công việc này vì sự đồng cảm của người lính và tự nguyện làm “cầu nối” giữa các thế hệ.“Tôi có may mắn làm báo trong lực lượng vũ trang rất nhiều năm và có cơ hội tiếp cận rất nhiều những kỷ vật, những lá thư thời chiến… và tôi “ngộ” ra một điều rằng, đôi khi chính những trang thư, nhật ký, ghi chép… tưởng chừng rất đỗi riêng tư lại mang đến cho chúng ta những thông tin và tư liệu cực kỳ quý báu, chúng có thể gợi mở biết bao nhiêu điều về đời sống tinh thần của xã hội trong quá khứ, góp phần lý giải những bí mật của lịch sử” – nhà văn Đặng Vương Hưng chia sẻ.Những ngày tháng 7, hồi ức chiến tranh lại trở vềNhững ngày tháng 7 luôn là những ngày đặc biệt đối với những người cựu chiến binh như Đại tá Đặng Vương Hưng.Ông bồi hồi kể lại: “Những năm 1984-1987, chúng tôi chiến đấu ở mặt trận Lạng Sơn, hứng trọn 10 năm chiến đấu dai dẳng, gian khổ, mưa bom bão đạn. Đó là thời bao cấp, thiếu thốn, đói ăn, thiếu mặc. Mùa đông rét cắt da, mùa hè đến cả nửa tháng không được tắm. Dưới cơn mưa những trận pháo kích, thám báo, mìn, trong 3 năm sư đoàn tôi hi sinh tới 500 người. Nó ám ảnh chúng tôi ghê gớm. Nhưng tinh thần đồng đội đã giúp chúng tôi vượt qua tất cả”.
Ông nói rằng, bản thân cảm thấy mình may mắn hơn so với rất nhiều đồng đội, may mắn vì đã được trở về sống giữa thời bình. “Nhưng tôi luôn cảm thấy “mắc nợ” với những thân nhân gia đình liệt sỹ, món nợ những ân tình. Họ đã ngã xuống trong chiến tranh hoặc mất sau khi chiến tranh kết thúc khi vẫn còn quá nhiều điều chưa trọn vẹn trong cuộc sống”.Chính từ những thôi thúc đó, ông đã dành hàng chục năm để tiếp tục cùng những đồng đội, những người đồng hành trong hành trình không mệt mỏi để tìm kiếm những bức thư, những kỷ vật, những cuốn nhật ký thời chiến.
Căn phòng lưu giữ kỷ vật thời chiến...Căn phòng lưu giữ hơn 1000 cuốn nhật ký, lá thư, kỷ vật thời chiến, đây cũng là kho báu vô giá mà nhà văn, nhà báo Đặng Vương Hưng cất công tìm kiếm và lưu giữ suốt hàng chục năm qua.
Căn phòng lưu giữ những kỷ vật thời chiến của Nhà văn, cựu chiến binh Đặng Vương HưngTừng là chiến sĩ trực tiếp cầm súng bảo vệ biên giới thiêng liêng của Tổ quốc, bén duyên với văn chương khi còn rất trẻ, Đại tá Đặng Vương Hưng từng có nhiều năm phục vụ trong Quân đội và làm báo trong lực lượng vũ trang.Ông còn được biết đến là tác giả của nhiều ý tưởng, dự án văn hóa, người miệt mài săn tìm những kỷ vật của một thời hoa lửa từ các cuộc kháng chiến vệ quốc vĩ đại của dân tộc. Ông là người có duyên khơi nguồn cho sự ra đời của hàng trăm cuốn sách, tư liệu vô giá, trong đó có nhật ký “Mãi mãi tuổi 20” và nhiều cuốn sách tư liệu chiến tranh có giá trị độc đáo khác. Người ta còn biết đến ông là nhà thơ, nhà văn, nhà báo, nhà sưu tầm tư liệu chiến tranh…2 trong số những cuốn sách xuất bản là “Mãi mãi tuổi 20” và “Nhật ký Đặng Thùy Trâm” đã trở thành hiện tượng xuất bản do chính nhà văn, nhà báo Đặng Vương Hưng chủ biên. Đằng sau đó là câu chuyện hành trình trở về đầy xúc động của người lính ở bên kia chiến tuyến.
Nhà văn Đặng Vương Hưng chia sẻ, sau nhiều năm, những người trẻ còn biết rất ít về chiến tranh. Thế nên, ông đã bắt tay vào làm công việc này vì sự đồng cảm của người lính và tự nguyện làm “cầu nối” giữa các thế hệ.“Tôi có may mắn làm báo trong lực lượng vũ trang rất nhiều năm và có cơ hội tiếp cận rất nhiều những kỷ vật, những lá thư thời chiến… và tôi “ngộ” ra một điều rằng, đôi khi chính những trang thư, nhật ký, ghi chép… tưởng chừng rất đỗi riêng tư lại mang đến cho chúng ta những thông tin và tư liệu cực kỳ quý báu, chúng có thể gợi mở biết bao nhiêu điều về đời sống tinh thần của xã hội trong quá khứ, góp phần lý giải những bí mật của lịch sử” – nhà văn Đặng Vương Hưng chia sẻ.Những ngày tháng 7, hồi ức chiến tranh lại trở vềNhững ngày tháng 7 luôn là những ngày đặc biệt đối với những người cựu chiến binh như Đại tá Đặng Vương Hưng.Ông bồi hồi kể lại: “Những năm 1984-1987, chúng tôi chiến đấu ở mặt trận Lạng Sơn, hứng trọn 10 năm chiến đấu dai dẳng, gian khổ, mưa bom bão đạn. Đó là thời bao cấp, thiếu thốn, đói ăn, thiếu mặc. Mùa đông rét cắt da, mùa hè đến cả nửa tháng không được tắm. Dưới cơn mưa những trận pháo kích, thám báo, mìn, trong 3 năm sư đoàn tôi hi sinh tới 500 người. Nó ám ảnh chúng tôi ghê gớm. Nhưng tinh thần đồng đội đã giúp chúng tôi vượt qua tất cả”.
Ông nói rằng, bản thân cảm thấy mình may mắn hơn so với rất nhiều đồng đội, may mắn vì đã được trở về sống giữa thời bình. “Nhưng tôi luôn cảm thấy “mắc nợ” với những thân nhân gia đình liệt sỹ, món nợ những ân tình. Họ đã ngã xuống trong chiến tranh hoặc mất sau khi chiến tranh kết thúc khi vẫn còn quá nhiều điều chưa trọn vẹn trong cuộc sống”.Chính từ những thôi thúc đó, ông đã dành hàng chục năm để tiếp tục cùng những đồng đội, những người đồng hành trong hành trình không mệt mỏi để tìm kiếm những bức thư, những kỷ vật, những cuốn nhật ký thời chiến.


