Cựu chiến binh

CỰU CHIẾN BINH BÀN PHÚC THÔNG

Ký ức tham gia cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc

Lào Cai24/12/2025PHÙNG THỪA PHÚ (Xã Võ Lao)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tôi tên là Bàn Phúc Thông, sinh năm 1963, sinh ra và lớn lên tại vùng quê xã Nậm Dạng, huyện Văn Bàn, nay đã sáp nhập thuộc xã Võ Lao mới, tỉnh Lào Cai. Quê tôi ngày ấy còn nghèo lắm. Núi cao, rừng rậm, ruộng nương ít, bà con quanh năm gắn với nương ngô, nương lúa. Tuổi thơ tôi lớn lên trong tiếng gà gáy sáng, tiếng suối chảy sau nhà và những bữa cơm đạm bạc nhưng chan chứa tình làng nghĩa xóm. Năm 1983, khi tôi tròn 20 tuổi, Nhà nước gọi đi nghĩa vụ quân sự. Ngày nhận giấy gọi, cả nhà tôi họp lại. Bố mẹ tôi bảo:“Đất nước gọi thì con cứ đi. Nhà nghèo nhưng không thể nghèo lòng yêu nước.” Nghe bố mẹ nói vậy, tôi cũng can đảm, gia đình đều nhất trí, coi việc lên đường nhập ngũ là trách nhiệm và cũng là niềm tự hào của dòng họ, của bản làng.

Sau khi nhập ngũ, tôi được đưa đi huấn luyện tại Bắc Ngầm, Lào Cai. Những ngày đầu trong quân ngũ thật sự rất vất vả. Từ một chàng trai quen nương rẫy, quen đi rừng, tôi phải làm quen với kỷ luật của quân đội. Sáng dậy từ khi trời còn tối mịt, hành quân mang vác 50kg, huấn luyện bắn súng, đào công sự, vượt chướng ngại, học chiến thuật bộ binh. Có những hôm mưa rét, bùn đất bám đầy người, chân phồng rộp, vai sưng đỏ vì đeo ba lô nặng, nhưng không ai dám kêu ca. Chúng tôi chỉ động viên nhau . Đến tháng 5 năm 1984, sau thời gian huấn luyện gian khổ, tôi cùng đồng đội nhận lệnh hành quân lên Hà Tuyên – Thanh Thủy, Vị Xuyên. Lúc ấy tôi thuộc Trung đoàn 174, Sư đoàn 316, Quân khu 2. Đơn vị đóng quân tại thị trấn Vị Xuyên, nơi mà chỉ nghe tên thôi đã thấy không khí chiến tranh bao trùm. Pháo địch nã về gần như ngày nào cũng có. Ban ngày khói súng còn vương trên sườn núi, ban đêm ánh pháo sáng xé toạc cả bầu trời. Tôi khi đó là lính bộ binh, nhiệm vụ chính là trực tiếp chiến đấu, giữ đất, giữ chốt. Chúng tôi đào hầm hào, làm công sự ngay trong lòng núi đá. Đêm nằm trong hầm, nghe tiếng pháo gầm rú trên đầu. Ngày 12 tháng 7 năm 1984, là ngày mà tôi không bao giờ quên trong đời. Đơn vị tôi được lệnh nổ súng tiến công đỉnh núi 153, nơi quân Trung Quốc chốt giữ từ trên cao. Địch ở trên đỉnh núi, lợi thế địa hình rất lớn, còn chúng tôi phải đánh từ chân núi lên, từng mét đất thấm đầy máu và mồ hôi. Khi lệnh nổ súng vang lên, cả ngọn núi rung chuyển. Phía địch dùng đủ các loại hỏa lực: súng máy, pháo các cỡ, đặc biệt là pháo H12, loại pháo có sức công phá rất mạnh. Mỗi lần pháo H12 rít lên, cả sườn núi như bị xé toạc, đất đá bay mù mịt, cây cối gãy đổ, hầm hào bị san phẳng chỉ trong chớp mắt. Bên ta dùng B41, AK, đại liên, cối để đánh trả. Tôi còn nhớ rõ cảm giác khi bóp cò khẩu AK, tay run lên không phải vì sợ mà vì căng thẳng. Đồng đội tôi người ngã xuống, người vẫn tiếp tục lao lên. Có những lúc phải bò sát đất, lợi dụng từng tảng đá, từng gốc cây để tiến lên. Máu và bùn đất trộn lẫn, tiếng hô xung phong hòa với tiếng đạn pháo tạo thành âm thanh mà đến giờ tôi vẫn còn nghe văng vẳng trong đầu. Cuộc chiến diễn ra liên tục, ác liệt suốt gần một tháng, với hai trận đánh lớn. Mỗi ngày trôi qua là một ngày giành giật sự sống. Có những đồng đội tối còn ngồi ăn chung mẩu lương khô, sáng hôm sau đã không còn nữa. Chúng tôi chôn cất anh em ngay bên sườn núi, chỉ kịp cắm tạm một cành cây làm dấu, lòng đau như cắt. Cuối cùng, sau bao nhiêu hy sinh, quân ta giành được đỉnh 153, đánh bật hoàn toàn căn cứ của địch. Quân Trung Quốc hầu như bị tiêu diệt, nhưng cái giá phải trả quá lớn. Quân ta hy sinh gần 4.000 người, bị thương gần 9.000 người. Con số ấy không chỉ là thống kê, mà là hàng nghìn con người, hàng nghìn gia đình mất đi người thân, là những giấc mơ còn dang dở. Trong một trận pháo kích dữ dội, tôi bị thương ở chân. Mảnh đạn găm sâu, máu chảy nhiều, tôi được đồng đội cáng ra khỏi trận địa trong mưa pháo. Tôi được chuyển về Bệnh viện 193, tỉnh Hà Giang để điều trị. Những ngày nằm viện, tôi gặp rất nhiều thương binh khác, người mất tay, người mất chân, có người không còn nhìn thấy ánh sáng nữa. Ai cũng đau, nhưng không ai than thân trách phận. Sau khi vết thương tạm hồi phục, tôi xin trở lại đơn vị. Tôi tiếp tục được phân công đóng quân tại Tả Thàng. Do vết thương ở chân chưa hồi phục hoàn toàn, tôi được giao nhiệm vụ trông giữ kho đạn dược của căn cứ. Công việc tưởng chừng nhẹ hơn, nhưng lại đòi hỏi sự cẩn trọng tuyệt đối. Giữ đạn cũng chính là giữ sinh mạng của đồng đội nơi tuyến trước. Những đêm trực kho, giữa núi rừng heo hút, tôi thường nhớ về quê nhà Võ Lao, nhớ bố mẹ, nhớ bữa cơm giản dị . Đến năm 1987, tôi được xuất ngũ trở về địa phương. Giờ đây, chiến tranh đã lùi xa, nhưng ký ức về những năm tháng ấy vẫn còn nguyên vẹn trong tôi. Tôi kể lại câu chuyện này không phải để khoe khoang, mà để con cháu sau này hiểu rằng: hòa bình hôm nay được đánh đổi bằng máu xương của biết bao thế hệ người lính.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn