Cựu chiến binh LÊ VĂN LỪA – MỘT THỜI TUỔI TRẺ GIỮ ĐẤT QUÊ HƯƠNG
LÊ VĂN LỪA – MỘT THỜI TUỔI TRẺ GIỮ ĐẤT QUÊ HƯƠNG Hai mươi tuổi, người ta thường nghĩ đến những dự định đầu đời, một mái ấm mai sau, những mùa làm ăn yên lành trên mảnh đất quê nhà. Nhưng năm hai mươi tuổi của bác Lê Văn Lừa lại mở ra bằng trách nhiệm của người chiến sĩ. Năm 1963, giữa lúc quê hương còn khói lửa, bác tham gia lực lượng du kích, gửi sức trẻ vào cuộc kháng chiến, gắn đời mình với nhiệm vụ giữ đất, giữ làng. Bác Lê Văn Lừa sinh ngày 01 tháng 01 năm 1943, quê ở Lợi An, vùng đất Cà Mau. Theo thông tin được cung cấp, bác có quá trình công tác từ năm 1963 đến năm 1975, từng là chiến sĩ và đảm nhiệm chức vụ Ấp đội phó du kích ấp Ông Tự. Mười hai năm, từ tuổi hai mươi đến tuổi ba mươi hai, là một chặng dài của đời người. Với bác, chặng đường ấy nằm trong những năm tháng quê hương phải vượt qua chiến tranh để đi đến ngày hòa bình, thống nhất.
LÊ VĂN LỪA – MỘT THỜI TUỔI TRẺ GIỮ ĐẤT QUÊ HƯƠNG
Hai mươi tuổi, người ta thường nghĩ đến những dự định đầu đời, một mái ấm mai sau, những mùa làm ăn yên lành trên mảnh đất quê nhà. Nhưng năm hai mươi tuổi của bác Lê Văn Lừa lại mở ra bằng trách nhiệm của người chiến sĩ. Năm 1963, giữa lúc quê hương còn khói lửa, bác tham gia lực lượng du kích, gửi sức trẻ vào cuộc kháng chiến, gắn đời mình với nhiệm vụ giữ đất, giữ làng.
Bác Lê Văn Lừa sinh ngày 01 tháng 01 năm 1943, quê ở Lợi An, vùng đất Cà Mau. Theo thông tin được cung cấp, bác có quá trình công tác từ năm 1963 đến năm 1975, từng là chiến sĩ và đảm nhiệm chức vụ Ấp đội phó du kích ấp Ông Tự.
Mười hai năm, từ tuổi hai mươi đến tuổi ba mươi hai, là một chặng dài của đời người. Với bác, chặng đường ấy nằm trong những năm tháng quê hương phải vượt qua chiến tranh để đi đến ngày hòa bình, thống nhất.
Khi tình yêu quê hương trở thành trách nhiệm
Bước vào lực lượng năm 1963, bác Lê Văn Lừa thuộc lớp thanh niên trưởng thành giữa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Ở miền sông nước Cà Mau, cuộc sống của người dân gắn với những dòng kinh, bờ ruộng, vườn cây và xóm nhỏ. Khi chiến tranh phủ bóng lên những không gian thân thuộc ấy, bảo vệ quê hương trở thành công việc thiết thân của từng người.
Đối với người du kích, địa bàn hoạt động cũng là nơi có gia đình, bà con và những kỷ niệm từ thuở nhỏ. Bởi vậy, tình yêu nước bắt đầu từ những điều rất gần: mong cha mẹ được yên lòng, người dân được làm ăn, xóm làng không còn nơm nớp trước tiếng súng.
Có thể hình dung tâm trạng của người thanh niên Lê Văn Lừa năm ấy: vừa quyết tâm, vừa bỡ ngỡ trước cuộc sống mới; thương gia đình nhưng hiểu rằng mình cần góp sức vào việc chung. Những mong ước riêng được tạm xếp lại, nhường chỗ cho nhiệm vụ trước mắt.
Ngày tham gia lực lượng cũng là ngày bắt đầu một quá trình rèn luyện. Người chiến sĩ học cách chấp hành phân công, giữ bí mật, phối hợp với đồng đội và thận trọng trong từng việc làm. Nhiệt tình tuổi trẻ dần được bồi đắp bằng kỷ luật và kinh nghiệm.
Từ người chiến sĩ đến trách nhiệm Ấp đội phó
Lực lượng du kích ở cơ sở là một bộ phận của thế trận chiến tranh nhân dân. Sự am hiểu địa bàn, mối liên hệ với đồng bào và khả năng phối hợp với các lực lượng tạo nên sức mạnh để bám trụ trong hoàn cảnh khó khăn.
Trong môi trường ấy, bác Lê Văn Lừa từng là chiến sĩ, sau đó được ghi nhận với cương vị Ấp đội phó du kích ấp Ông Tự. Đó là trách nhiệm gắn trực tiếp với lực lượng tại ấp, đòi hỏi người cán bộ phải gần gũi anh em, có ý thức tổ chức và gương mẫu trong công việc.
Người Ấp đội phó cần phối hợp với người chỉ huy, cùng tập thể thực hiện nhiệm vụ, giữ sự thống nhất và động viên đồng đội. Ở cơ sở, mỗi hành động đều gắn với những con người cụ thể, những gia đình cụ thể. Sự cẩn trọng và tinh thần trách nhiệm vì thế mang ý nghĩa sâu sắc.
Từ vị trí chiến sĩ đến cương vị Ấp đội phó là dấu mốc trưởng thành đáng trân trọng trong chặng đường công tác của bác. Hồ sơ chưa ghi lại một trận đánh hay tình huống cụ thể, nhưng những mốc ấy cho thấy tuổi trẻ của bác đã gắn bó lâu dài với lực lượng du kích quê nhà.
Điểm tựa từ đồng đội và nhân dân
Chiến tranh thử thách con người bằng hiểm nguy, thiếu thốn và những nỗi lo thường trực. Trong hoàn cảnh ấy, người chiến sĩ có thêm sức mạnh từ tình đồng đội và sự đùm bọc của nhân dân.
Một lời hỏi han khi mệt nhọc, sự sẻ chia trong sinh hoạt, tinh thần hỗ trợ nhau hoàn thành nhiệm vụ đều có thể trở thành điểm tựa. Tình cảm ấy được vun đắp từng ngày, qua việc biết nghĩ cho người bên cạnh và cùng chịu trách nhiệm trước tập thể.
Với người du kích, nghĩa tình nhân dân còn gắn với chính nơi mình sinh sống. Những người bà, người mẹ, những gia đình quê hương là phần thân thuộc trong đời người chiến sĩ. Sự tin cậy giữa lực lượng và đồng bào giúp tình quân dân thêm bền chặt.
Nhìn vào chặng đường từ năm 1963 đến năm 1975 của bác Lê Văn Lừa, có thể cảm nhận giá trị của sự bền lòng. Mỗi năm tháng đi qua đều đòi hỏi người chiến sĩ tiếp tục rèn mình, giữ niềm tin và làm tròn phần việc được giao.
Tinh thần “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” được các thế hệ chiến sĩ tiếp nối bằng ý chí sẵn sàng nhận nhiệm vụ, vượt qua gian khổ, đặt sự nghiệp chung lên trên những thuận tiện riêng. Trên địa bàn xóm ấp, tinh thần ấy hiện diện trong trách nhiệm bảo vệ quê hương và sự gắn bó với đồng đội, nhân dân.
Từ thời hoa lửa đến những ngày bình yên
Năm 1975, đất nước bước vào ngày hòa bình, thống nhất. Chặng đường công tác thời chiến được ghi nhận của bác Lê Văn Lừa cũng kéo dài đến dấu mốc ấy. Tuổi hai mươi ngày tham gia lực lượng đã trở thành tuổi ba mươi hai, mang theo một thời thanh xuân gắn với cuộc kháng chiến.
Theo thông tin cung cấp, bác gắn bó với ấp Tân Thành, Lợi An. Câu chuyện về bác là một phần ký ức quê hương cần được tìm hiểu và gìn giữ. Đằng sau tên tuổi, năm công tác và chức vụ là những trải nghiệm mà thế hệ sau cần đến gần để lắng nghe.
Đề án “Thời hoa lửa” do Đoàn Thanh niên phát động là dịp để người trẻ nối lại những mạch ký ức ấy. Từng kỷ niệm được xác nhận, từng câu chuyện được ghi chép cẩn thận sẽ giúp lịch sử hiện lên qua những con người gần gũi trong cộng đồng.
Tri ân bác Lê Văn Lừa và thế hệ đi trước, đoàn viên hôm nay tiếp nối bằng những việc làm cụ thể: học tập nghiêm túc, lao động tận tâm, chăm lo người có công, góp sức giữ gìn sự bình yên và xây dựng xóm làng.
Tuổi hai mươi của bác đã gửi vào một thời đất nước còn khói lửa. Từ người chiến sĩ đến Ấp đội phó du kích ấp Ông Tự, chặng đường ấy góp thêm vào lịch sử quê hương một dấu chân bền bỉ. Để hôm nay, khi người trẻ bước đi trên những con đường thanh bình, lòng biết ơn trở thành động lực sống có trách nhiệm với mảnh đất mình yêu.


