Cựu chiến binh LÊ VĂN TRIẾT – BẢY NĂM THANH XUÂN TRONG MÀU ÁO LÍNH
LÊ VĂN TRIẾT – BẢY NĂM THANH XUÂN TRONG MÀU ÁO LÍNH Mười bảy tuổi, Lê Văn Triết bước vào hàng ngũ. Năm ấy là năm 1974, khi quê hương còn chiến tranh, khi ngày hòa bình đã được mong đợi qua biết bao cuộc chia xa. Người thanh niên quê Lợi An bắt đầu chặng đường phục vụ kéo dài đến năm 1981, gửi những năm đầu trưởng thành vào nhiệm vụ của người chiến sĩ. Bác Lê Văn Triết sinh ngày 01 tháng 01 năm 1957, quê ở Lợi An, Trần Văn Thời, Cà Mau. Thông tin được cung cấp ghi nhận bác từng là chiến sĩ Tiểu đoàn 5, Công an vũ trang tỉnh Minh Hải và có thời gian thuộc đơn vị tập kết tại Campuchia. Bảy năm, từ tuổi mười bảy đến tuổi hai mươi bốn, đi qua những năm cuối cuộc kháng chiến và tiếp tục trong giai đoạn đất nước thống nhất. Đó là một phần thanh xuân gắn với tập thể, với kỷ luật và những nhiệm vụ cần được tìm hiểu đầy đủ hơn qua lời kể của bác cùng đồng đội.
Ê VĂN TRIẾT – BẢY NĂM THANH XUÂN TRONG MÀU ÁO LÍNH
Mười bảy tuổi, Lê Văn Triết bước vào hàng ngũ. Năm ấy là năm 1974, khi quê hương còn chiến tranh, khi ngày hòa bình đã được mong đợi qua biết bao cuộc chia xa. Người thanh niên quê Lợi An bắt đầu chặng đường phục vụ kéo dài đến năm 1981, gửi những năm đầu trưởng thành vào nhiệm vụ của người chiến sĩ.
Bác Lê Văn Triết sinh ngày 01 tháng 01 năm 1957, quê ở Lợi An, Trần Văn Thời, Cà Mau. Thông tin được cung cấp ghi nhận bác từng là chiến sĩ Tiểu đoàn 5, Công an vũ trang tỉnh Minh Hải và có thời gian thuộc đơn vị tập kết tại Campuchia.
Bảy năm, từ tuổi mười bảy đến tuổi hai mươi bốn, đi qua những năm cuối cuộc kháng chiến và tiếp tục trong giai đoạn đất nước thống nhất. Đó là một phần thanh xuân gắn với tập thể, với kỷ luật và những nhiệm vụ cần được tìm hiểu đầy đủ hơn qua lời kể của bác cùng đồng đội.
Nghĩ về buổi đầu tham gia, người viết hình dung niềm háo hức xen cùng sự bỡ ngỡ. Phía sau là gia đình, những sinh hoạt đã quen, những gương mặt thân thuộc. Phía trước là đơn vị, giờ giấc mới và yêu cầu phải tự rèn mình. Tình thương dành cho quê nhà theo người chiến sĩ, trở thành động lực để cố gắng làm tròn phần việc được giao.
Ở tuổi mười bảy, nhiều điều còn phải học. Môi trường quân ngũ giúp người trẻ từng bước hiểu sức nặng của trách nhiệm: một quy định cần được giữ đúng, một nhiệm vụ cần được hoàn thành nghiêm túc, một hành động phải nghĩ đến những người cùng hàng ngũ.
Tên đơn vị “Tiểu đoàn 5, Công an vũ trang tỉnh Minh Hải” là dấu mốc riêng trong chặng đường của bác. Về lịch sử địa phương, tên tỉnh Minh Hải được sử dụng từ năm 1976, sau khi Cà Mau và Bạc Liêu hợp nhất. Vì vậy, tên đơn vị này cần được hiểu theo một giai đoạn trong quá trình phục vụ, chưa thể mặc định là nơi bác công tác ngay từ năm 1974. (baocamau.vn)
Lịch sử lực lượng Công an nhân dân vũ trang gắn với nhiệm vụ biên phòng và bảo vệ nội địa. Cuối năm 1979, lực lượng được đổi tên thành Bộ đội Biên phòng và chuyển sang Bộ Quốc phòng. Chặng đường phục vụ đến năm 1981 của bác đi qua thời điểm chuyển đổi ấy, nhưng nhiệm vụ và tổ chức cụ thể nơi bác công tác vẫn cần đối chiếu hồ sơ.
Trong môi trường đó, tinh thần cảnh giác, ý thức giữ gìn bí mật và sự phối hợp có ý nghĩa quan trọng. Người chiến sĩ cần lòng nhiệt tình, đồng thời phải biết thận trọng, chấp hành nguyên tắc và hiểu yêu cầu của công việc.
Sự trưởng thành được bồi đắp qua từng ngày. Có bài học đến từ người chỉ huy, có điều được chỉ bảo bởi đồng đội giàu kinh nghiệm. Qua công việc chung, người trẻ học cách tự chủ, kiên trì và tạo niềm tin bằng hành động của mình.
Thông tin về “đơn vị tập kết tại Campuchia” mở thêm một phần ký ức cần tìm hiểu. Trong những năm sau ngày đất nước thống nhất, nhiều người con Minh Hải tiếp tục lên đường bảo vệ biên giới Tây Nam và làm nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia. Đây là bối cảnh chung của thời kỳ ấy; chưa đủ căn cứ để xác định bác Lê Văn Triết trực tiếp thực hiện nhiệm vụ nào hoặc có mặt tại địa bàn cụ thể nào.
Bởi vậy, cần giữ rõ điều đã biết và phần còn chờ xác nhận. Bác sang Campuchia vào năm nào, đơn vị đóng ở đâu, công việc được phân công ra sao — những câu hỏi ấy cần lời người trong cuộc. Một địa danh, một tên đồng đội, một giấy tờ còn lưu giữ có thể giúp nối lại những mốc đời đang rời rạc.
Tình đồng đội là sợi dây đáng được gìn giữ trong hành trình ấy. Những người từ nhiều mái nhà gặp nhau trong một hàng ngũ, cùng thực hiện nhiệm vụ và chia sẻ nỗi nhớ quê hương. Sự tin cậy được tạo nên từ cách giữ lời, làm tròn phần việc và quan tâm đến người bên cạnh.
Những kỷ niệm riêng của bác Lê Văn Triết, khi được kể lại chân thực, sẽ giúp thế hệ sau hiểu sâu hơn tình nghĩa đó. Đời lính có những điều bình dị nhưng theo con người rất lâu: một lời hướng dẫn, một lần được giúp đỡ, một người đồng đội vẫn còn nhớ tên sau nhiều năm xa cách.
Tinh thần “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” được các thế hệ tiếp nối bằng lòng yêu nước và ý thức sẵn sàng nhận trách nhiệm. Với bác, dấu mốc tham gia từ tuổi mười bảy mở đầu một chặng đường kéo dài qua những hoàn cảnh khác nhau của đất nước.
Năm 1981 khép lại giai đoạn phục vụ được ghi trong danh sách. Bác khi ấy hai mươi bốn tuổi. Bảy năm quân ngũ trở thành một phần hành trang gắn với tập thể, nhiệm vụ và những trải nghiệm cần được lưu giữ.
Theo thông tin cung cấp, bác có địa chỉ tại ấp Tân Hiệp, Lợi An, Trần Văn Thời, Cà Mau và tham gia Hội Cựu chiến binh năm 1994. Những dấu mốc ấy nối người chiến sĩ trẻ năm xưa với miền quê thân thuộc.
Với Đoàn Thanh niên, Đề án “Thời hoa lửa” là dịp đến gần câu chuyện của bác bằng lòng kính trọng và sự cẩn trọng. Một cuộc thăm hỏi, một trang hồ sơ được đối chiếu, một ký ức được ghi chép đầy đủ đều góp phần giữ lịch sử bằng đúng trải nghiệm của từng con người.
Tuổi mười bảy của bác Lê Văn Triết đã bắt đầu bằng trách nhiệm trong hàng ngũ. Tuổi trẻ hôm nay tiếp nhận câu chuyện ấy bằng việc học tập, lao động, chăm lo người đi trước và góp sức cho cộng đồng. Để ngọn lửa của một thời tiếp tục sáng trong những việc làm tận tâm dành cho quê hương.


