Cựu Chiến binh Ma Văn Hành

THÔNG TIN VỀ CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA
Họ và tên Cựu chiến binh: Ma Văn Hành
Năm sinh: 19/12/1937
Chi hội CCB sinh hoạt: Thôn Minh Đức
Tên đơn vị/Chiến trường từng công tác, chiến đấu: Trung đoàn 246 – H2B Phó đoàn 560, Quân khu 3
Có những năm tháng đã đi qua nhưng chưa bao giờ thực sự bị lãng quên. Đó là những năm tháng thời thơ ấu của biết bao nhiêu người lính đã trở quê hương, khoác lên mình màu áo lính và bước vào cuộc chiến đấu vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Với cựu chiến binh Ma Văn Hành, những năm tháng chiến đấu từ khi nhập ngũ năm 1962 đã trở thành một phần ký ức sâu sắc của cuộc sống ông. Những trận đánh, những lần hành quân, những người đồng đội và cả những mất mát, hy sinh vẫn luôn được ông nhớ về như một dấu ấn không thể phai mờ của một thời “Hoa lửa”.
Tháng 4 năm 1962, khi vừa bước sang tuổi 24 – độ tuổi đẹp nhất của đời người, người thanh niên giản dị, giàu tình yêu nước Ma Văn Hành đã viết đơn tình nguyện nhập ngũ, gác lại những dự định riêng để khoác lên mình màu áo người lính. Sau 3 tháng huấn luyện gian khổ, Trung đoàn 246, ông được chuyển lên tại Hà Giang. Đến tháng 10 cùng năm, ông nhận lệnh điều động về Quân khu 1, rồi tiếp tục chuyển về Tuyên Quang.
Năm 1963, ông tham gia những trận chiến ác liệt. Khi ông tham gia chiến dịch tại khu vực Bắc Giang, các anh em lại tiếp tục có đồng đội hy sinh. Sau đó quay về Việt Bắc. Ông trở thành một người lính trinh sát của quân khu Việt Bắc. Ngày 21/11/1963, ông được Bác Hồ trao tặng Huân chương Chiến công Hạng Ba.
Ngày 5 tháng 8 năm 1964, ông quay trở lại nhận nhiệm vụ tại quân khu Việt Bắc. Trong bối cảnh đế quốc Mỹ leo tháng bắn phá miền Bắc, mang trong mình bầu máu nóng của tuổi trẻ, ông cùng đồng đội đã viết đơn gửi lên Bộ Quốc phòng xin sẵn sàng được chi viện cho chiến trường miền Nam. Cuối năm 1964 ước nguyện đó đã thành sự thực.
Năm 1965 ông hành quân sang Lào, bang qua đường mòn lịch sử trước khi tiến vào Xa Va Na Khẹt ông nhận lệnh tham gia mở tuyến đường 559 huyền thoại.
Năm 1967 khi đang điều dưỡng thương tật tại trạm 40 Cao Bằng, ông đã không ngần ngại nhường lại chiếc giường và chỗ điều trị tốt nhất của mình cho các đồng đội bị thương nặng hơn, tự nguyện chuyển về tuyến sau ở Hải Hưng để tiếp tục điều trị.
Cuối năm 1967, đầu năm 1968 do sức khỏe suy giảm vì thương tật, ông được xuất ngũ và được nhà nước trao tặng Huân chương chiến công hạng Ba ngày 15/15/1979.
Câu chuyện của ông là vô giá, nhắc nhở thế hệ trẻ hôm nay về sự cống hiến và hi sinh cao cả của các thế hệ cha ông vì nền độc lập, hòa bình của tổ quốc.


