Cựu chiến binh Nguyễn Hữu Chứ - Dành cả thanh xuân cho sự nghiệp giải phóng dân tộc
Cựu chiến binh Nguyễn Hữu Chứ - Dành cả thanh xuân cho sự nghiệp giải phóng dân tộc
Dành cả thanh xuân cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, dù năm nay đã ngoài 70 tuổi, nhưng cựu chiến binh Nguyễn Hữu Chứ vẫn còn nhớ như in những ngày tháng trong quân ngũ. Đó là những ngày tháng đầy gian khổ và thiếu thốn, thậm chí là gắn với những kỉ ức đau thương ám ảnh. Nhưng không thể phủ nhận, đó chính là giải đoạn lịch sử đã thay đổi vận mệnh của cả dân tộc.
Ông sinh năm 1949, là người con của mảnh đất nhãn lồng (Hưng Yên). Cũng như bao lớp thanh niên vào thời điểm đó , sau khi tốt nghiệp trung cấp vận tải, ông bắt đầu nhập ngũ vào năm 1969. Sau 1 năm huấn luyện , ông bắt đầu thực hiện nhiệm vụ ở lữ đoàn 164 hay còn gọi là đoàn pháo binh Bến Hải, nơi mà ông đã gắn bó suốt gần 20 năm. Đối mặt với người lính trẻ chính là trận chiến khốc liệt ở thành cổ Quảng Trị, giữ nhiệm vụ kéo phe ,kéo pháo, chở đạn dược và lương thực tiếp tế cho bộ binh bên trong. Ác liệt nhất là năm 1972, trong khi bộ đội đang chiến đấu khốc liệt bên trong thành Cổ, bên ngoài đoàn pháo binh của ông cũng phải làm việc suốt ngày đêm, vừa tiếp tế cho quân ,vừa bắn pháo xiên sang bên địch. Có lúc đang bắn thì địch nhảy dù xuống ngay gần, liền phải ứng biến ngay, vừa đánh cầm vừa kéo pháo về. Không chỉ vậy, bên trong thành Cổ thiếu thốn bao nhiêu thì bên ngoài cũng vất vả bấy nhiêu. Có được miếng lương khô, miếng sắn hay chút gạo sấy cũng rất may mắn. Dù khốc liệt đến đâu, những người chiến sĩ như ông vẫn luôn giữ được sự kiên cường, quả cảm và không lùi bước. Trong những người lính ấy đã lan tỏa một lí tưởng mà ông luôn khắc ghi và lấy đó làm động lực: “Sống xanh cỏ, chết đỏ ngực”. Dù có hi sinh cũng không để sự hi sinh của mình là vô nghĩa, đến lúc nhắm mắt xuôi tay vẫn để lại chiến công cho đất nước.
Đến năm 1973, ông được thăng chức làm tiểu đội trưởng, là một trong những hình mẫu trong bài thơ “Tây Tiến”. Những kí ức trên đường Trường Sơn -tuyến đường lịch sử cũng khốc liệt không kém với trận chiến ở thành Cổ. Những chiếc xe chở hàng hóa chi viện chạy suốt ngày đêm trên con đường đất gồ ghề, sỏi đá. Ngày thì vừa đi vừa tránh máy bay trinh sát, đến đêm cũngchỉ có một chiếc đèn nhỏ dưới gầm xe hoặc đi dựa vào ánh trăng hay đôi khi là được bộ đội chỉ đường với chiếc khắn trắng. Vậy nên có khi đi xuyên đêm cũng chỉ đi được 20 km. Có lần khi bị máy bay Mỹ thả bom, ông may mắn thoát được nhưng vẫn bị văng những mảnh đạn vào tay và đùi. Đến tận bây giờ, những chiến tích ấy ,ông vẫn mang bên mình như một minh chứng cho sự khốc liệt của chiến tranh. Mỗi khi thay đổi thời tiết, những dấu vết ấy lại như nhắc nhở ông về những tháng năm ấy. Nhưng ngay trong những thời điểm nguy nan ấy, tình đoàn kết và tình đồng chí giữa những người lính chính là ánh sáng êm dịu trong những ngày tăm tối. Ông nhớ lại, trong những đợt sốt rét rừng thường xuyên đến, những tấm chăn , manh áo của đồng đội chính là điều ông không bao giờ quên và cũng không dám quên. Ấy vậy mà ông đã chứng kiến không biết bao nhiêu đồng đội của mình ngã xuống. Mới hôm qua còn chia sẻ cho nhautừng manh áo đến tấm chăn, nhưng có thể mai thôi, ông lại phải chia tay thêm một người bạn. Không phải chai lì mà là không có đủ thời gian để khóc, người nằm xuống đã nằm xuống, người ở lại vẫn phải tiếp tục chiến đấu. Ròng rã suốt 17 năm như vậy, cho đến bây giờ ,không riêng ông mà mỗi người chiến sĩ khi có thời gian để ngẫm lại thì nỗi đau lại càng thấm thía hơn.
Dành cả thanh xuân cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, ông trở lại quê hương năm 1986 , khi đã gần sang tuổi tứ tuần. Ngoài mang quân hàm Đại Úy, ông còn đặc biệt tự hào để nói về huân chương Chiến công hạng 2 sau bao nhiêu năm cồng hiến.



